Trung_Chau_Huyen_Khong.pdf

30  Download (0)

Full text

(1)

1

Trung Châu Huyền không

L

L

i

i

n

n

g

g

c

c

a

a

N

N

a

a

m

m

P

P

h

h

o

o

n

n

g

g

:

:

6 năm tu tập phong thủy biết về Tam Hợp, Bát Trạch, Huyền Không cứ nghĩ rằng đã đủ nói chuyện cát hung. Trải qua 2 tháng ngắn ngủi này mới biết cái đã học thực chỉ là vài bước chân trên con đường vạn dặm; Hà-Lạc rõ lý Tiên-Hậu thiên; Ai tinh Quy tàng rõ lý âm dương; Tam quyết Trung Châu định hồn luận phách; Bản sơn khởi quái thiên bách cục; Hạ quái ai tinh người người hiểu, Thượng quái ai tinh mấy ai tường; 64 quái 384 hào luân chuyển càn khôn... Cái cao sâu phải cầu Tâm Đạo. Cái sâu sắc phải đợi Ngộ Duyên.

Thấy nhiều bạn dọ dẫm tìm học mà không được mấy kết quả, từng trải qua cảm giác đó nên không ngại tài hèn Nam Phong trình bày ra đây một phần cái ngộ của cơ duyên mình. Đầu tiên là Huyền không của Trung Châu phái.

L

L

i

i

d

d

n

n

:

:

Huyền không phái Trung Châu mỗi đời chỉ truyền một đệ tử, từ Vương Đình Chi tiên sinh công khai thu nhận 40 đệ tử mà thuật phong thủy của phái mới được biết đến rộng rãi. Huyền không Trung Châu phối hợp cả loan đầu và lý khí, trong lý luận không xem nhẹ bên nào, chỉ loan đầu thôi tức có thể xác mà không có hồn, chỉ lý khí tức có hồn mà không thể xác. Trong cả hai trường hợp đều không dùng được, chỉ là nói suông mà thôi.

Huyền là thời gian, không là không gian. Huyền không tức mối liên quan giữa thời gian và không gian vậy.

Dưới đây là phần căn bản của Trung Châu huyền không lý khí, trong quá trình viết có thể những mục bên dưới sẽ được bổ sung thêm các phần liên quan cho hoàn chỉnh thêm, mỗi lần có bổ sung Nam Phong sẽ thêm bên dưới các đề mục này.

Phần 1 Huyền không lý khí nhập môn

hậu thiên cấp số hợp tiên thiên, bát quái cửu tinh nhất khí liên, tứ tượng trung ương quy bản vị, ngũ hành nội ngoại các hoàn nguyên,

1. cửu vận suy vượng luận sinh tử:

2. hạ quái và kiêm quái tinh bàn cách cục

Điên điên đảo đảo địa phiên thiên, khí vận tuần hoàn lục thập niên, châu bảo hoả khanh phân đối diện, hoả khanh châu bảo cận thân biên, thế tinh chỉ dụng thập tam tinh ,

(2)

2

dụng thế cự môn nhâm mão ất , sửu cấn bính sơn thế phá quân . tốn quái tam sơn giai vũ khúc , canh dần hữu bật lưỡng tinh lâm dương thuận âm nghịch cách nhất vị , thị vi không vị kị lưu thần

3. hình lý phối hợp

Kiền khôn biến hoá dịch môn khai, thiên địa nhân thông nhiệm vãng lai, cửu trực cửu hoành phân cửu diệu , tam kinh tam vĩ hợp tam tài,

4. thất tinh đả kiếp phân chân giả

Thất tinh đả kiếp thiểu nhân tri, diệu nghĩa chung quy lưỡng ngộ thời, hoạ phúc quân phân bằng thiện ác, cát hung phán đoán hữu công tư, Ly cung tương hợp thuyết quân tri, lưỡng cá kim tinh tính thể thời,

tế biện âm dương phân thuận nghịch, tường suy thiên địa hợp can chi,

5. thức đắc phụ mẫu tam ban quái ,dĩ thị chân thần lộ 6. liên châu cục 7. luận phục ngâm 8. luận phản ngâm 9. lưu thần ---dương thuận âm nghịch cách nhất vị 10. linh thần、chính thần tương đắc Âm dương nhị tự lưỡng tinh thần, long thuỷ tương giao lý khí chân, khảm vị sinh lai vi chính hướng, ly cung khắc nhập thị linh thần,

(3)

3 12. thành môn nhất quyết tối vi lương

13. lệnh tinh nhập tù

14. ngũ vận trung bát thuần quái

Phần 2 Trung Châu tam quyết 1. An tinh quyết

2. Bài long quyết

3. Thu sơn xuất sát quyết

1

1

.

.

c

c

u

u

v

v

n

n

s

s

u

u

y

y

v

v

ư

ư

n

n

g

g

l

l

u

u

n

n

s

s

i

i

n

n

h

h

t

t

:

:

C

C

u

u

t

t

i

i

n

n

h

h

s

s

i

i

n

n

h

h

v

v

ư

ư

n

n

g

g

s

s

u

u

y

y

t

t

:

:

Lập tinh bàn điều quan trọng trước hết là phải nhận biết sinh vượng suy tử của cửu tinh. Huyền không dùng 20 năm làm một vận, 3 vận tức 60 năm làm một nguyên, 9 vận cộng thành 3 nguyên. Hiện nay là vận 8 từ năm 2004 đến năm 2024, vận 8 thì Bát bạch Tả phụ là vượng tinh, cửu tử là sinh khí tinh. Vượng tinh của 9 vận liệt kê như bên dưới:

nhất vận nhất bạch tham lang là vượng tinh nhị vận nhị hắc cự môn là vượng tinh tam vận tam bích lộc tồn là vượng tinh tứ vận tứ lục văn khúc là vượng tinh ngũ vận ngũ hoàng liêm trinh là vượng tinh lục vận lục bạch võ khúc là vượng tinh thất vận thất xích phá quân là vượng tinh bát vận bát bạch tả phụ là vượng tinh cửu vận cửu tử hữu bẫn là vượng tinh

Sao đương vận là vượng tinh, 2 sao kế tiếp là sinh khí tinh, như vận 8 dùng cửu tử và nhất bạch; vận 9 dùng nhất bạch và nhị hắc. Tuy nhiên phải chú ý sự sinh khắc của vận tinh và sinh khí tinh. Như vận 8 dùng cửu tử thì tương sinh, dùng nhất bạch thì tương khắc. Như vận 9 dùng nhất bạch là tương khắc, các vận khác cũng suy như vậy.

Luận sinh khí tinh như vận 8 dùng cửu tử thì tốt vì được sinh nhập, dùng nhất bạch lại không bằng do vừa là sao sinh khí xa vừa khắc xuất với sao đương vận.

Có sinh vượng tất có suy tử, tại vận 8 thất xích là sao thoái khí, vô cát vô hung, các sao xa khác như lục bạch, ngũ hoàng, tứ lục, tam bích, nhị hắc là sao suy tử. Chú ý rằng sao thoái khí tuy tạm thời vô cát vô hung nhưng nếu hình thế tại nơi nó đóng xấu thì sẽ khởi phát hung tính và sao chuyển thành hung.

Huyền không luận cát hung chủ yếu ở cửu tinh sinh vượng suy tử, âm đương hai trạch như nhau, cần tìm nơi sinh vượng khí để dùng, tránh nơi suy tử, là nguyên tắc

(4)

4

chính. Cụ thể vận dụng thì âm dương hai trạch có những điểm không giống nhau. Khẩu quyết về định sinh vượng suy tử của cửu tinh:

“đang vận giả vượng, tướng lai giả sinh. kỉ quá giả suy, cửu quá giả tử .”

T

T

i

i

ê

ê

n

n

t

t

h

h

i

i

ê

ê

n

n

h

h

u

u

t

t

h

h

i

i

ê

ê

n

n

h

h

d

d

n

n

g

g

Phần trên trình bày thì cửu tinh mỗi vận chỉ dùng được nhiều lắm là tam tinh, riêng thoái khí tinh nếu ở tình thế chẳng thể khác cũng có thể miễn cưỡng mà dùng. Trung Châu Huyền không dụng tinh không chỉ bấy nhiêu đó mà xem cụ thể vấn đề tiên thiên hậu thiên hỗ trợ với nhau mà dụng tinh “tiên thiên, hậu thiên bát quái phương vị tác vi biến thông chi đạo lai thủ dụng” như sau:

Như hiện nay vận 8 vượng tinh là Bát bạch tại hậu thiên Cấn cung, Cấn cung hậu thiên tại tiên thiên là Chấn nên Tam bích cùng Bát bạch là thông khí tinh, Cấn cung tiên thiên tại hậu thiên là Càn nên Lục bạch cùng Bát bạch là thông khí tinh. Nên vận 8 ngoài các sao Bát bạch, Cửu tử, Nhất bạch, Thất xích thì khi phối hợp dùng tinh thông khí thì Tam bích và Lục bạch đều nên dùng. Nên nhớ khi dùng các tinh thông khí thì phải kết hợp với sao nguyên vận, không dùng các sao thông khí một cách riêng lẻ được. Các vận khác cũng theo như thế.

Để các bạn đỡ mất thời gian tôi đã tính sẵn các Nguyên vận Tiên thiên Hậu thiên đối ứng thông khí như sau: nhất vận: 1 thông cùng 2,7 nhị vận: 2 thông cùng 1,4 tam vận: 3 thông cùng 8,9 tứ vận: 4 thông cùng 2,7 ngũ vận: 5 thông cùng 2,8(vì Ngũ hoàng ký thác nơi Khôn Cấn) lục vận: 6 thông cùng 8,9 thất vận: 7 thông cùng 1,4 bát vận: 8 thông cùng 3,6 cửu vận: 9 thông cùng 3,6

Để cửu tinh sinh vượng phát huy được mức tối đa thì nên chú ý vấn đề sinh khắc. Như phòng ốc thì chọn nơi sơn tinh sinh vượng nhưng phải chú ý không nên để hướng tinh khắc sát sơn tinh, nếu khắc sát thì vượng tinh sơn khó phát huy được tác dụng cao. Làm cửa đường đi thì chọn nơi sinh vượng của hướng tinh nhưng phải chú ý không nên để sơn tinh khắc sát hướng tinh, nếu khắc sát thì vượng tinh hướng khó phát huy tác dụng cao. Nếu có tình huống khắc sát xảy ra phải hóa giải, lấy câu “chế không bằng hóa” mà dùng.

(5)

5

2

2

.

.

h

h

q

q

u

u

á

á

i

i

v

v

à

à

k

k

i

i

ê

ê

m

m

q

q

u

u

á

á

i

i

t

t

i

i

n

n

h

h

b

b

à

à

n

n

c

c

á

á

c

c

h

h

c

c

c

c

Điên điên đảo đảo địa phiên thiên, khí vận tuần hoàn lục thập niên, châu bảo hoả khanh phân đối diện, hoả khanh châu bảo cận thân biên,

La bàn 360 độ chia ra 8 cung 24 sơn, mỗi sơn 15 độ. Tính từ trung tâm mỗi sơn qua hai bên 4,5 độ, tức 9 độ giữa mỗi sơn thì dùng Hạ quái. 6 độ còn lại của mỗi sơn(3 độ mỗi bên biên của sơn) thì dùng Thế quái(còn gọi kiêm hướng).

Cụ thể nhị thập tứ sơn mỗi sơn hạ quái thế quái độ số như sau:

Cung Khảm:

Nhâm sơn 337.5 độ đến 352.5độ. 340.5 đến 349.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

Tý sơn 352.5 độ đến 007.5độ. 355.5 đến 004.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

Quý sơn 007.5 độ đến 022.5 độ. 007.5 đến 019.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

Cung Cấn:

Sửu sơn 022.5 độ đến 037.5 độ. 025.5 đến 034.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

Cấn sơn 037.5 độ đến 052.5 độ. 040.5 đến 049.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

Dần sơn 052.5 độ đến 067.5 độ. 055.5 đến 064.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

Cung Chấn:

Giáp sơn 067.5 độ đến 082.5 độ. 070.5 đến 079.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

Mão sơn 082.5 độ đến 097.5 độ. 085.5 đến 094.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

Ất sơn 097.5 độ đến 112.5 độ. 100.5 đến 109.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

Cung Tốn:

Thìn sơn 112.5 độ đến 127.5 độ. 115.5 đến 124.5 ñoä duøng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

Tốn sơn 127.5 độ đến 142.5 độ. 130.5 đến 139.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

Tị sơn 142.5 độ đến 157.5 độ. 145.5 đến 154.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

Cung Ly:

Bính sơn 157.5 độ đến 172.5 độ. 160.5 đến 169.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

(6)

6

Ngọ sơn 172.5 độ đến 187.5 độ. 175.5 đến 184.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

Đinh sơn 187.5 độ đến 202.5 độ. 190.5 đến 119.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

Cung Khôn:

Mùi sơn 202.5 độ đến 217.5 độ. 205.5 đến 214.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

Khôn sơn 217.5 độ đến 232.5 độ. 220.5 đến 229.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

Thân sơn 232.5 độ đến 247.5 độ. 235.5 đến 244.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

Cung Đoài:

Canh sơn 247.5 độ đến 262.5 độ. 250.5 đến 259.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

Dậu sơn 262.5 độ đến 277.5 độ. 265.5 đến 274.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

Tân sơn 277.5 độ đến 292.5 độ. 280.5 đến 289.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

Cung Càn:

Tuất sơn 292.5 độ đến 307.5 độ. 295.5 đến 304.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

Càn sơn 307.5 độ đến 322.5 độ. 310.5 đến 319.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

Hợi sơn 322.5 độ đến 337.5 độ. 325.5 đến 334.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh .

H

H

q

q

u

u

á

á

i

i

t

t

i

i

n

n

h

h

b

b

à

à

n

n

a

a

n

n

t

t

i

i

n

n

h

h

p

p

h

h

á

á

p

p

:

:

Huyền không phong thuỷ tinh bàn bao gồm vận tinh bàn, sơn tinh bàn, hướng tinh bàn phối hợp phán đoán cát hung

Vận tinh bàn:

Huyền không chia 180 năm thành 3 nguyên 9 vận, mỗi vận 20 năm do một sao quản vận nhập trung cung thuận phi theo lường thiên xích gọi là vận tinh bàn. Như hiện nay thuộc về Hạ nguyên vận 8(từ 2004 đến 2024).

9 Vận tinh bàn:

nhất bạch tham lang quản nhất vận, giáp tý giáp tuất 20 năm 9---5---7

8---1---3 4---6---2

(7)

7 nhị hắc cự môn quản nhị vận, giáp thân giáp ngọ 20 năm

1---6---8 9---2---4 5---7---3

tam bích lộc tồn quản tam vận, giáp thìn giáp dần 20 năm 2---7---9

1---3---5 6---8---4

tứ lục văn xương quản tứ vận, giáp tý giáp tuất 20 năm 3---8---1

2---4---6 7---9---5

ngũ hoàng liêm trinh quản ngũ vận, giáp thân giáp ngọ 20 năm 4---9---2

3---5---7 8---1---6

lục bạch vũ khúc quản lục vận, giáp thìn giáp dần 20 năm 5---1---3

4---6---8 9---2---7

thất xích phá quân quản thất vận, giáp tý giáp tuất 20 năm 6---2---4

5---7---9 1---3---8

bát bạch tả phụ quản bát vận, giáp thìn giáp dần 20 năm 7---3---5

6---8---1 2---4---9

cửu tử hữu bật quản cửu vận, giáp thân giáp ngọ 20 năm 8---4---6

7---9---2 3---5---1

Sơn-Hướng tinh bàn:

Căn cứ vào thời gian hiện tại thuộc vận nào và sơn(phía hậu của trạch mộ), hướng do sao nào đóng mà đem hai sao ấy nhập trung cung cùng sao vận. Trung Châu Huyền không quy ước sao bên trái là sao sơn, sao bên phải là sao hướng, phân mỗi cung 3 sơn thành Địa nguyên-Thiên nguyên và Nhân nguyên đếm theo thứ tự từ bên trái qua, như cung Khảm thì sơn Nhâm là Địa, Tý là Thiên, Quý là Nhân; cung Cấn thì Sửu là

(8)

8

Địa, Cấn là Thiên, Dần là Nhân… Dựa vào sơn hướng thuộc Địa, Thiên hay Nhân nguyên mà xem Địa, Thiên hay Nhân nguyên tương ứng của sao sơn hướng để nhận âm dương, nếu là âm thì sao sơn hoặc hướng ấy sẽ phi ngịch 9 cung(theo chiều giảm dần), nếu là dương thì sao sơn hoặc hướng ấy sẽ phi thuận 9 cung(theo chiều tăng dần như vận bàn). Thứ tự phi tinh là đầu tiên ở Trung cung->Tây >Tây->Đông Bắc->Nam->Bắc->Tây Nam->Đông->Đông Nam.

Âm dương các sao:

Sao 1, 3, 7, 9: Địa-Dương; Thiên,Nhân-Âm Sao 2, 4, 6, 8: Địa-Âm; Thiên, Nhân: Dương

Sao 5: xem trung cung sao vận là sao nào thì lầy âm dương theo sao đó.

Ví dụ vận 8 đo hướng được 176 độ, tọa sơn thuộc sơn Tý, cung Khảm; hướng thuộc sơn Ngọ, cung Ly. Vận bàn: 7---3---5 6---8---1 2---4---9 Sơn bàn:

Lấy 4 là sao tọa sơn nhập trung cung, vì sơn Tý thuộc Thiên nguyên nên sao 4 lấy âm dương theo Thiên nguyên của 4 tức là dương, phi thuận:

3---8---1 2---4---6 7---9---5 Hướng bàn:

Lấy 3 là sao đầu hướng nhập trung cung, vì sơn Ngọ thuộc Thiên nguyên nên sao 3 lấy âm dương theo Thiên nguyên của 3 tức là âm, phi nghịch:

4---8---6 5---3---1 9---7---2 Tổng hợp tinh bàn như sau: 174---838---156 265---483---611 729---947---592

T

T

h

h

ế

ế

q

q

u

u

á

á

i

i

t

t

i

i

n

n

h

h

b

b

à

à

n

n

a

a

n

n

t

t

i

i

n

n

h

h

p

p

h

h

á

á

p

p

:

:

Khi sơn hướng lệch khỏi trung tâm sơn 4,5 độ thì không dùng cách khởi tinh bàn Hạ quái như bên trên mà phải dùng Thế quái:

Trung Châu phái sở truyền dùng thế quái phép tắc như sau:

- Trong một cung, âm kiêm âm, dương kiêm dương không dùng thế tinh, âm dương tương kiêm mới dùng thế tinh: Như cung Khảm Tý sơn với Quý sơn đồng thuộc âm, Nhâm sơn là dương. Nếu kim la bàn ở Tý nhưng lệch hơn 4,5 độ tính từ trung tâm của sơn, lệch về bên Quý sơn thì không dùng thế tinh do Tý và Quý đều là âm, vẫn dùng Hạ

(9)

9 quái khởi tinh như bên trên. Nếu lệch về bên Nhâm sơn thì dùng thế quái do Nhâm Tý là âm dương tương kiêm.

- Xuất quái phải thế, không cần xét âm dương:

Như Quý sơn khi kim la bàn lệch hơn 4,5 độ tính từ trung tâm của sơn về phía bên Sửu thì dù Quý và Sửu đều là âm vẫn dùng thế tinh do Quý thuộc về Khảm, Sửu lại thuộc về Cấn.

Trung Châu phái mật truyền khẩu quyết thế quái như sau:

“Thế tinh chỉ dụng thập tam tinh , khước dụng tham lang phôi giáp thân . dụng thế cự môn nhâm mão ất , sửu cấn bính sơn thế phá quân . tốn quái tam sơn giai vũ khúc , canh dần hữu bật lưỡng tinh lâm dương thuận âm nghịch cách nhất vị , thị vi không vị kị lưu thần “

Dịch nghĩa:

Thế tinh chỉ dùng 13 sơn, các sơn còn lại không dùng thế mà dùng Hạ quái. Giáp Thân sơn dùng Tham lang thế, tức dùng 1 nhập trung phi động. Nhâm Mão Ất sơn dùng Cự Môn thế, tức dùng 2 nhập trung phi động. Sửu Cấn Bính sơn dùng Phá quân thế, tức dùng 7 nhập trung phi động. Thìn Tốn Tị sơn dùng Vũ khúc thế, tức dùng 6 nhập trung phi động. Canh Dân sơn dùng Hữu bật thế, tức dùng 9 nhập trung phi động.

(Riêng 2 câu cuối đến phần Lưu thần sẽ giải thích rõ) Như vận 8 Giáp sơn Canh hướng kiêm Dần Thân: Vận tinh bàn:

7---3---5 6---8---1 2---4---9 Sơn tinh bàn:

Giáp kiêm Dần do kiêm xuất quái nên phải dùng thế tinh, sơn tinh 6 tại Địa nguyên long là sơn Tuất, Tuất trong khẩu quyết không có thế tinh nên vẫn dùng 6 nhập trung, Tuất là âm nên phi ngịch

7---2---9 8---6---4 3---1---5

Hướng tinh bàn:

Canh kiêm Thân do kiêm xuất quái nên phải dùng thế tinh, hướng tinh 1 tại Địa nguyên long là sơn Nhâm, Nhâm dùng Cự môn thế(2), vì Nhâm dương nên 2 nhập trung thuận phi:

1---6---8 9---2---4

(10)

10 5---7---3 Tổng hợp tinh bàn 771---236---958 869---682---414 325---147---593

H

H

u

u

y

y

n

n

k

k

h

h

ô

ô

n

n

g

g

h

h

q

q

u

u

á

á

i

i

t

t

i

i

n

n

h

h

b

b

à

à

n

n

t

t

c

c

c

c

:

:

Hạ quái ai tinh 9 vận 24 sơn hướng tổng cộng có hơn 200 cục, tủy nhiên có thể chia thành 4 loại cục thế như sau: đáo sơn đáo thủy(còn gọi vượng sơn vượng hướng); thượng sơn hạ thủy; song tinh hội tọa; song tinh hội hướng.

(1) đáo sơn đáo thuỷ: là tinh bàn đương vận sơn tinh phi đáo toạ sơn cung vị, đương vận hứong tinh phi đáo hướng thủ cung vị .

như vận 7 mão sơn dậu hướng ----661---125---843

sơn 752---579---397 hướng ----216---934---488

Đương vận thất xích sơn tinh đáo toạ sơn cung vị, đương vận thất xích thuỷ tinh đáo hướng thủ cung vị.

(2) thượng sơn hạ thuỷ: là tinh bàn đương vận sơn tinh phi đáo hướng thủ cung vị, đương vận hướng tinh phi lâm toạ sơn cung vị .

như vận 7 tị sơn hợi hướng sơn 567---123---345

----456---678---891

----912---234---789 hướng

Đương vận thất xích sơn tinh phi đáo hướng thủ cung vị, đương vận thất xích thuỷ tinh phi đáo toạ sơn cung vị

(3) song tinh hội toạ: là tinh bàn đương vận sơn tinh và hướng tinh đều phi đáo tọa sơn như vận 7 tý sơn ngọ hướng ---hướng 461---826---648 559---372---194 915---737---283 ---sơn

Đương vận vượng tinh thất xích sơn tinh, thuỷ tinh phi đáo toạ sơn cung vị

(4)song tinh hội hướng: là tinh bàn đương vận sơn tinh và hướng tinh đều phi đáo hướng thủ

(11)

11 ---sơn 164---628---846 955---273---491 519---737---382 ---hướng

Đương vận vượng tinh thất xích sơn tinh, thuỷ tinh phi đáo hướng thủ cung vị

Đ

Đ

s

s

l

l

a

a

b

b

à

à

n

n

t

t

a

a

h

h

ư

ư

n

n

g

g

k

k

h

h

ô

ô

n

n

g

g

t

t

h

h

d

d

ù

ù

n

n

g

g

:

:

Khi sử dụng la bàn để định tọa độ cho mộ trạch, có 3 loại tọa hướng cần chú ý mà tránh:

Thứ nhất: âm dương tương kiêm trong 1 quái:

Khi tinh bàn kiêm hướng tức là đã vượt khỏi 4,5 độ trung tâm của sơn thì mỗi bên sẽ còn 3 độ, nếu kiêm hướng trong phạm vi 1,5 độ(tức từ 4,5 đến 6 độ so với trung tâm của sơn) thì bình thường. Nếu kiêm vượt khỏi 1,5 độ(tức từ 6 đến 7,5 độ so với trung tâm của sơn) thì lúc này khí bác tạp nhiều nên không tốt, sẽ dẫn đến chuyện kiện tụng, bệnh tật, bất hòa gia đình hoặc các việc dẫn đến phá tài… tùy tinh bàn mà phát sinh.

Nếu kiêm hướng trong một quái, hai sơn tương kiêm đều là dương hoặc đều là âm, khi kiêm hướng vượt ra ngoài phạm vi 1,5 độ như nói trên, nếu tinh bàn và loan đầu phối hợp tốt thì không hung mà cát, tuy nhiên khi vận qua rồi thì sẽ có hung sự, cần tinh tế cân nhắc thận trọng khi dùng. Nếu hai sơn tương kiêm là âm dương thì tuyệt đối không được sử dụng tương kiêm ngoài 1,5 độ như trên. Tinh bàn có đẹp, loan đầu có tốt cũng có hung sự, thậm chí đại hung. Đây là tọa hướng tuyến không nên dùng.

Thứ hai: xuất quái toạ hướng tuyến:

Theo Trung Châu thế quái pháp thì khi kiêm hướng xuất quái như Nhâm sơn kiêm Hợi sơn, nếu tương kiêm ngoài 1,5 độ(tức từ 6 đến 7,5 độ so với trung tâm của sơn) là tối hung, đại phá tài, sinh bệnh tật triền miên. Đây là tọa hướng tuyến không nên dùng.

Thứ ba: tuyến không châm

Nói tuyến không châm tức là nói tọa hướng rơi vào đường phân giới của 24 sơn, chia làm hai loại: đường phân giới của 2 sơn trong một quái và đường phân giới của 2 sơn trong 2 quái, phàm rơi vào tuyến không châm thì không cách chi cứu vãn, chỉ phải bỏ không dùng vì dùng thì phát sinh đại hung.

3 loại tọa hướng bên trên không thể dùng các phương pháp để điều chỉnh được(mặc dù ở tình huống thứ nhất có một loại tọa hướng tạm dùng nhưng cũng sẽ phát sinh hung sự khi vận hiện tại qua đi). Một lần nữa cần nhấn mạnh: Tọa hướng hung là nên tránh.

(12)

12

3

3

.

.

h

h

ì

ì

n

n

h

h

l

l

ý

ý

p

p

h

h

i

i

h

h

p

p

Kiền khôn biến hoá dịch môn khai, thiên địa nhân thông nhiệm vãng lai, cửu trực cửu hoành phân cửu diệu, tam kinh tam vĩ hợp tam tài,

Phi tinh phối hợp phân làm 4 loại: đáo sơn đáo hướng(phát tài đinh), thượng sơn hạ thủy(tổn tài đinh), song tinh hội hướng(phát tài tổn đinh), song tinh hội tọa(phát đinh tổn tài); 4 tên gọi này để nói cục thế, kỳ thực không phải nói suy vượng. Trung Châu xem việc kết hợp mệnh tử vi, bài long, tinh bàn và hình thể xung quanh mới đủ yếu tố đo lường suy vượng sinh tử. Phần này chỉ nói về việc kết hợp hình thế chung quanh và tinh bàn mà không nói đến 2 yếu tố còn lại. Mỗi một cục thế đều có 4 cục ở trong đó.

- Nói đáo sơn đáo hướng tức vượng tinh của hướng phi đến đầu hướng, vượng tinh của sơn phi đến tọa sơn. Nếu phía trước có thủy, hình thế khoan khoát rộng rài(thế không), phía sau có nhà cao tầng hay hình thế cao(thế mãn) mới là đắc cách đáo sơn đáo hướng; Nếu hình thế đảo ngược thì dù tên gọi đáo sơn đáo hướng thực lại là phản cục thượng sơn hạ thủy cách; nếu trước mặt khuyết thủy hay có nhà cao, gò cao thì là thượng sơn cách; nếu trước mặt khuyết sơn hay kiến thủy thì lại là hạ thủy cách.

- Nói thượng sơn hạ thủy tức vượng tinh của hướng phi đến tọa sơn, vượng tinh của sơn phi đến đầu hướng. Nếu phía trước có thủy, hình thế khoan khoát rộng rài(thế không), phía sau có nhà cao tầng hay hình thế cao(thế mãn) là chính cách thượng sơn hạ thủy; Nếu hình thế đảo ngược thì dù tên gọi thượng sơn hạ thủy thực lại là đảo kị long cách đáo sơn đáo hướng; nếu trước mặt khuyết thủy hay có nhà cao, gò cao thì là đáo sơn cách; nếu trước mặt khuyết sơn hay kiến thủy thì lại là đáo thủy cách.

- Nói song tinh hội hướng tức vượng tinh của hướng, tọa phi đến đầu hướng. Nếu phía trước có sơn, có thủy là đắc cách song tinh hội hướng; tiên kiến thủy, hậu kiến sơn là thượng cách; tiên kiến sơn hậu kiến thủy là thứ cách; Nếu trước mặt chỉ có thủy không có sơn là đáo thủy cách; nếu trước mặt chỉ có sơn không có thủy là đáo sơn cách; Nếu vô sơn vô thủy là phản cục thượng sơn hạ thủy cách.

- Nói song tinh hội tọa tức vượng tinh của hướng, tọa phi đến tọa sơn. Nếu phía sau có sơn, có thủy là đắc cách song tinh hội tọa; tiên kiến sơn, hậu kiến thủy là thượng cách; tiên kiến thủy hậu kiến sơn là thứ cách; Nếu chỉ có thủy không có sơn là đáo thủy cách; nếu trước mặt chỉ có sơn không có thủy là đáo sơn cách; Nếu vô sơn vô thủy là phản cục thượng sơn hạ thủy cách.

Một cục mà hàm chứa 4 cục mới là ý nghĩa thực của đáo sơn đáo hướng, thượng sơn hạ thủy, song tinh đáo hướng, song tinh đáo tọa. 24 sơn 9 vận không kể thế tinh, có 216 tinh bàn, hợp cùng bài long, tử vi sinh vượng hưu tù của mỗi đời người thành vô số cách.

Bài long nói thất hung ngũ cát kỳ thực không cố định như vậy, có lúc hung tinh lại là cát tinh, có lúc cát tinh lại là hung tinh nếu khắc sát mộ trạch.

Long có sinh vượng hưu tù, Thời có sinh vượng hưu tù, mệnh cũng có sinh vượng hưu tù. Địa-Thiên-Nhân 3 vượng là bất bại, 1 suy 2 vượng là cát, 1 vượng 2 suy thì bình, 3 suy là bại. Trong cái vượng cũng có thấp cao, trong cái bại cũng có thấp cao, lời nói tương đối là vậy, nên có hai nhà cạnh nhau mà bên thành bên bại. Các bạn hữu duyên sẽ tường được ý này.

(13)

13

4

4

.

.

t

t

h

h

t

t

t

t

i

i

n

n

h

h

đ

đ

k

k

i

i

ế

ế

p

p

p

p

h

h

â

â

n

n

c

c

h

h

â

â

n

n

g

g

i

i

Thất tinh đả kiếp thiểu nhân tri, diệu nghĩa chung quy lưỡng ngộ thời, hoạ phúc quân phân bằng thiện ác, cát hung phán đoán hữu công tư, Ly cung tương hợp thuyết quân tri, lưỡng cá kim tinh tính thể thời,

tế biện âm dương phân thuận nghịch, tường suy thiên địa hợp can chi,

T

T

h

h

t

t

t

t

i

i

n

n

h

h

h

h

à

à

m

m

ý

ý

:

:

Huyền không học có một cách cục gọi là Thất tinh đã kiếp, gọi là Thất tinh đã kiếp do từ cửu tinh nghịch số 7 vị mà ra, như tam bích đếm nghịch số 7 vị là lục bạch, tiếp lục bạch đếm nghịch sổ 7 vị là cửu tử… cứ nghịch số 7 vị trí bài tinh thì sẽ xuất hiện 3 tổ hợp số như sau:

nhất tứ thất nhị ngũ bát tam lục cửu

Thất tinh đả kiếp tác dụng để đoạt vượng khí của tam nguyên, như bát vận hạ nguyên vượng khí, dụng thất tinh đả kiếp có thể thu thượng nguyên nhị hắc, trung nguyên ngũ hòang vượng khí. Sở dĩ như vậy vì nhị ngũ bát là một tổ hợp của thất tinh, tổ hợp náy chủ yếu vượng về tài phú và quan vị, tổ hợp nhất tứ thất chủ yếu vượng về văn chương nghệ thuật, tổ hợp tam lục cửu chủ yếu vượng về quý hiển.

C

C

h

h

â

â

n

n

g

g

i

i

đ

đ

k

k

i

i

ế

ế

p

p

:

:

Cửu tinh phân 3 tổ hợp, tinh diệu phân bố tại lạc thư cửu cung cũng chính là vị trí dụng của Thất tinh đã kiếp.

đệ nhất tổ hợp: nhất tứ thất - khảm cung tốn cung đoái cung đệ nhị tổ hợp: nhị ngũ bát - khôn cung trung cung cân cung đệ tam tổ hợp: tam lục cửu - chấn cung càn cung li cung

Thất tinh đả kiếp cách cục tinh bàn chỉ tồn tại khi song tinh hội toạ hoặc song tinh hội hướng. Ngoại trừ hai điều này thì không thành cục thế.

Trung châu phái sở truyền huyền không học Thất tinh đã kiếp cách cục phải có 5 điều kiện:

(14)

14

nhị: 3 tổ hợp số bên trên phải phân bố ở 3 cung: Li, Càn, Chấn. Thư vân: “thức đắc phụ mẫu tam ban quái, kỉ thị chân thần lộ; bắc đẩu thất tinh khứ đả kiếp, Li cung yếu tương hợp ” Hai câu nói rõ Li cung mới là chân đả kiếp, Trung châu phái không dùng khảm cung giả đả kiếp chi pháp.

Tam: toạ hướng mộ trạch phải là Li hoặc Càn hoặc Chấn. Ngoại trừ 3 tọa hướng này, 5 tọa hướng còn lại(không kể trung cung) không bào giờ hình thành cục Thất tinh đã kiếp cả.

như vận 7 nhâm sơn bính hướng 263---727---945

154---372---599 618---836---481

tứ: đả kiếp ở tam cung hỗ tương thông khí. Phải dùng khai môn là thượng cách, hoặc làm đường đi, hoặc dùng làm phòng, nếu là phòng thì mở cửa phòng cũng ngay ở 3 cung đó. Như vận 7 nhâm sơn bính hướng bên trên thì tại li, càn, chấn 3 cung bố trí.

Ngũ: Đả kiếp cách cục nếu gặp phản phục lệnh thì phải bỏ không dùng được. Khi sơn tinh hoặc hướng tinh là sao 5 nhập trung cung, nếu thuận phi là phục lệnh, nghịch phi là phản lệnh. Như vận 9 nhâm sơn bính hướng

485---949---267 376---594---722 831---158---613

Li cung song tinh đáo hướng, tuy nhiên vì sao sơn là 5 nhập trung thuận phi là phục lệnh nên cục này không nên dùng mặc dù là đả kiếp vì dùng thì đại hung cho nhân khẩu trong trạch đó.

Lời bàn thêm của Nam Phong: Thất tinh đã kiếp của Trung Châu phái đinh ninh ngay lời đầu tiên là chỉ dùng khi tọa hướng nằm trong 3 cung: Li, Càn, Chấn và khi song tinh hội tọa hoặc song tinh hội hướng nhưng ở thượng quyển này của Trung Châu huyền không chỉ minh pháp song tinh hội hướng mà thôi, khi song tinh hội tọa cần thêm một vài điều kiện nửa mới dùng được. Các bạn hết sức lưu ý điều này.

5

5

.

.

T

T

h

h

c

c

đ

đ

c

c

p

p

h

h

m

m

u

u

t

t

a

a

m

m

b

b

a

a

n

n

q

q

u

u

á

á

i

i

,

,

d

d

ĩ

ĩ

t

t

h

h

c

c

h

h

â

â

n

n

t

t

h

h

n

n

l

l

:

:

Huyền không học có 2 loại tam ban quái là phụ mẫu tam ban quái và liên châu tam ban quái. “Thiên ngọc kinh” câu mở đầu: “giang đông nhất quái tòng lai cát, bát thần tứ

cá nhất; giang tây nhất quái bài long vị, bát thần tứ cá nhị; nam bắc bát thần cộng nhất quái, đoan đắc ứng vô sai”.

3 câu khẩu quyết thiên cổ chi mê. Chiếu quan điểm trung châu phái thì hai câu đầu giảng về thế quái, câu cuối giảng phụ mẫu tam ban quái. Trung châu phái khởi thế quái ai tinh khẩu quyết, trong một quái hai sơn đồng âm hoặc đồng dương không dùng thế tinh, âm dương tương kiêm mới phải dùng thế tinh.

Suy ngẫm kỹ thì 2 câu cổ quyết đầu giảng thế tinh khởi pháp phân đồng âm hoặc đồng dương. “Nam bắc bát thần cộng nhất quái, đoan đích ứng vô sai” giảng phụ mẫu tam ban quái. “bát thần” chỉ bát quái, “nam” tức li quái, “bắc ” tức khảm quái. Thư vân: “kinh tứ vị khởi phụ mẫu” tức ngụ ý này, theo phương vị lạc thư nghịch kinh tứ vị như sau:

(15)

15 Khảm quái(1) nghịch tứ vị là tốn quái(4), tốn quái nghịch tứ vị là đoài quái(7)

Cân quái(8) nghịch tứ vị là trung quái(5), trung quái nghịch tứ vị là khôn quái(2)

Đây chính là tổ hợp phụ mẫu tam ban quái, mặc dù với tổ hợp Thất tinh đã kiếp có giống nhau về các bộ số nhưng bản chất hai cái lại hoàn toàn khác nhau, các bạn cần lưu ý điều này.

Nếu trong tinh bàn sơn, hướng, vận tinh hợp lại thành các tổ hợp số của phụ mẫu tam ban quái như trên thì tinh bàn này là tinh bàn Phụ mẫu tam ban quái. Xem xét cửu vận thì tinh bàn phụ mẫu tam ban quái chỉ xuất hiện ở vận 2, vận 5 và vận 8, còn lại 6 vận khác thì không có cách cục này. Ví dụ như vận 2 Cấn sơn Khôn hướng: 417---963---285 396---528---741 852---174---639 bát vận dần sơn thân hướng 174---639---852 963---285---417 528---741---396 ngũ vận khôn sơn cân hướng 147---693---825 936---258---471 582---714---369

Nếu để ý nhận xét thì các bạn sẽ thấy toàn bộ tinh bàn Phụ mẫu tam ban quái đều là thượng sơn hạ thủy cục, do đó Trung Châu phái lưu ý:

1. Phụ mẫu tam ban quái chỉ vượng tài, xuất cự phú nhưng không hiển quý, không xuất vừa phú đại vừa quý hiển.

2. Tinh bàn Phụ mẫu tam ban quái là thượng sơn hạ thủy cục nên hình thế bên ngoài phải hợp cách đảo kị long(tọa không triều mãn) tức phía hướng cần cao(kiến sơn, kiến trạch, địa thế cao…) phía tọa cần thấp(trống thóang, kiến thủy, kiến đạo lộ…) mới là hợp cách, bằng ngược lại chẳng những không vượng tài còn gặp hung họa. Sở dĩ lí khí và loan đầu hỗ tương kiến cát là vậy.

3. Phụ mẫu tam ban quái chỉ dùng được trong vận, đại phát trong vận, vận qua rồi nếu không thay đổi, chủ tài bại tuyệt, hung bất khả ngôn. Điểm này các bạn phải đặc biệt lưu ý.

6

6

.

.

l

l

i

i

ê

ê

n

n

c

c

h

h

â

â

u

u

c

c

c

c

(

(

l

l

i

i

ê

ê

n

n

n

n

h

h

ư

ư

c

c

c

c

)

)

:

:

Phần trước đã nói về Phụ mẫu tam ban quái, phần này tiếp Liên châu tam ban quái (cũng gọi là Liên như cục). Để nhận diện được Liên châu tam ban quái thì nhìn trên tinh bàn cả 9 cung, mỗi cung Vận-Sơn-Hướng tinh đều hợp thành các nhóm số liên tiếp 123, 234, 345, 456, 567, 678, 789, 891, 912 thì đấy chính là Liên châu tam ban quái.

Ví dụ vận 7 Càn sơn Tốn hướng: 765---321---543

(16)

16

654---876---198 219---432---987

Trung Châu phái xem Liên châu tam ban quái là hung cục. Bài long dù hợp cách nhưng gặp phải tinh bàn Liên châu tam ban quái thì trước phát nhưng về sau đại bại. Nếu bài long gặp hung long thì họa đến ngay tức thì.

Nếu là tân trạch (nhà mới chuyển đến, mới xây) bài được cát long thì 3 năm đầu vô sự, sau 3 năm thì bắt đầu chuyển hung. Trong trường hợp 3 năm đầu phát mạnh thì cái hung về sau không cứu vãn nổi, “vô pháp hóa giải chi hung”.

Trung Châu phái chia Tam ban quái ra làm 3 loại: Thất tinh đã kiếp, Phụ mẫu tam ban, Liên châu tam ban để người học không lầm lẫn, hai loại đầu tùy hình cục mà có cát có hung, riêng loại sau cùng phải tránh không thể dùng.

7

7

.

.

l

l

u

u

n

n

p

p

h

h

c

c

n

n

g

g

â

â

m

m

Huyền không có 2 loại tinh bàn gọi là phục ngâm và phản ngâm(phục lệnh và phản lệnh), cả hai loại tinh bàn này đều là hung bàn, hung họa đến từ tinh bàn này rất mạnh.

Phục ngâm xuất hiện trong 2 tình huống: tinh bàn toàn cục phục ngâm và tinh bàn có một số cung vị phạm phục ngâm.

T

T

o

o

à

à

n

n

c

c

c

c

p

p

h

h

c

c

n

n

g

g

â

â

m

m

:

:

xuất hiện khi sơn hướng tinh là ngũ hòang nhập trung cung thuận phi, 9 cung toàn bàn bất động(như Lạc thư nguyên đán bàn). Như vận 1 Nhâm sơn Bính hướng ---bính hướng 794---259---972 993---615---437 348---161---526 ---nhâm sơn

hướng thượng đắc ngũ hoàng nhập trung thuận phi, hướng tinh bàn với nguyên đán bàn chữ chữ tương đồng, tức là phục lệnh.

Như vận 7 giáp sơn canh hướng 468---924---246

357---579---792 813---135---661

sơn thượng đắc ngũ hoàng nhập trung thuận phi, sơn tinh bàn với nguyên đán bàn chữ chữ tương đồng, tức là phục lệnh .

Khi ngũ hoàng nhập trung thuận phi tức là phục lệnh chi cục, ngũ hoàng nhập trung thuận phi cũng có nghĩa là không phải đáo sơn đáo hướng mà là thượng sơn hoặc hạ thủy cục hoặc vừa thượng sơn vừa hạ thủy. Hướng tinh ngũ hoàng nhập trung thuận phi

(17)

17 thì bại tài, tọa tinh ngũ hoàng nhập trung thuận phi thì tổn đinh, toàn bàn phục lệnh xét về lí khí là tối hung, không cách hóa giải.

Nếu tinh bàn dụng được thành môn cách, khai môn đón cát khí (thành môn hướng) nếu là hướng tinh phục ngâm hoặc tác sơn tụ khí (thành môn sơn) nếu là sơn tinh phục ngâm thì trong vận dù là phục lệnh vẫn là cát, nhưng chỉ dùng được trong vận mà thôi, khi vận qua rồi thì hung họa sẽ đến (lưu ý thành môn chỉ thông khí tạm thời cho phục lệnh trong vận, không phải là cách để hóa giải phục lệnh).

C

C

á

á

c

c

c

c

u

u

n

n

g

g

p

p

h

h

c

c

n

n

g

g

â

â

m

m

:

:

Các cung phục ngâm có 2 loại: thứ nhất là khi sơn tinh hoặc hướng tinh của cung đó trùng với số Lạc thư nguyên đán bàn(như trường hợp trên nhưng là từng cung, không phải toàn bàn) thì sơn tinh hoặc hướng tinh tại cung đó phạm phục lệnh. Thứ hai là khi sơn tinh hoặc hướng tinh giống với số vận tinh của cung đó thì sơn tinh hoặc hướng tinh tại cung đó phạm phục lệnh.

Như vận 7 mão sơn dậu hướng 661---125---843

752---579---397 216---934---488

Đoài cung hướng tinh thất xích với nguyên đán bàn tương đồng, nên hướng tinh 7 tại Đoài phạm phục lệnh.

Tốn cung sơn tinh 6 với vận tinh 6 giống nhau, nên sơn tinh 6 tại Tốn phạm phục lệnh.

Càn cung hướng tinh 8 với vận tinh 8 giống nhau, nên hướng tinh 8 tại Càn phạm phục lệnh.

Tại vận 7 thất xích đương quyền, 8 bạch là sinh khí tinh, tuy nhiên hướng tinh tại Đoài, Càn đều phạm phục lệnh nên dụng sự tại Đoài Càn phải nên thận trọng, trong vận 7 Đoài, Càn cung kiến thủy, lộ thì lợi tài vận, qua vận 8 thì cát hung mỗi thứ một nữa, đến vận 9 thì đại bại tiền tài.

Riêng Tốn cung vì sơn tinh 6 vốn là thoái khí, vô cát vô hung nhưng vì phạm phục lệnh nên hung tinh đắc thế, tại cung này không nên kiến sơn(nhất là không nên đặt phòng tại đây) mà nên kiến thủy sẽ giảm được phần nào hung họa của phục lệnh cung.

8

8

.

.

l

l

u

u

n

n

p

p

h

h

n

n

n

n

g

g

â

â

m

m

Phản ngâm với phục ngâm khác biệt nhau ở chổ: phản ngâm thì sơn, hướng tinh là ngũ hoàng nhập trung cung nghịch phi chứ không phải thuận phi.

Phản ngâm thì lại là đáo sơn hoặc đáo hướng hoặc vừa đáo sơn vừa đáo hướng cách cục. Nếu hình thể phối hợp tương đắc thì chủ phát phúc trong vận, khi vận qua rồi thì bại tài đinh. Cũng như phục ngâm, phản ngâm cũng có 2 loại đó là toàn cục phản ngâm và các cung vị phản ngâm.

T

T

o

o

à

à

n

n

c

c

c

c

p

p

h

h

n

n

n

n

g

g

â

â

m

m

:

:

(18)

18

như vận 7 ất sơn tân hướng: 661---125---843

752---579---397 216---934---488

sơn tinh ngũ hoàng nhập trung nghịch phi, với nguyên đán bàn là các tinh phi đến đối cung như nhất đến li, tứ đến càn, lục đến tốn… gọi là phản lệnh.

như vận 8 sửu sơn mùi hướng: 376---731---558

467---285---913 822---649---194

hướng tinh ngũ hoàng nhập trung nghịch phi, với nguyên đán bàn là các tinh phi đến đối cung như nhất đến li, tứ đến càn, lục đến tốn… gọi là phản lệnh.

Lời bàn thêm của Nam Phong:

sửu sơn mùi hướng ngoài đáo sơn đáo hướng ra, một số phái phi tinh xem là phụ mẫu tam ban, cho rằng đây là cục tốt trong vận 8 này. Tuy nhiên quan điểm của Trung Châu phái không xem cục này là phụ mẫu tam ban (xin xem lại trong phần Phụ mẫu tam ban quái). Vả lại phụ mẫu tam ban cục là thông khí cục nên có thể hóa giải thượng sơn hạ thủy cách, đối với phản phục lệnh hoàn toàn không tác dụng, do đó dùng cục này nên cẩn thận: phần cát vẫn là cát, phần hung vẫn là hung, không hóa giải được nhau.

C

C

á

á

c

c

c

c

u

u

n

n

g

g

v

v

p

p

h

h

n

n

n

n

g

g

â

â

m

m

:

:

Các cung phản ngâm chỉ có 1 trường hợp: khi sơn tinh hoặc hướng tinh của cung đó đối xung với số Lạc thư nguyên đán bàn(như trường hợp trên nhưng là từng cung, không phải toàn bàn) thì sơn tinh hoặc hướng tinh tại cung đó phạm phản lệnh.

như vận 8 mão sơn dậu hướng 572---136---354

463---661---818 927---245---799

Tinh bàn không có ngũ hoàng nhập trung nghịch phi, tuy nhiên tại li cung, sơn tinh nhất bạch, nhất bạch với lạc thư nguyên đán bàn li cung là cửu đối xung, nên li cung sơn tinh phạm phản ngâm, dùng thì không tốt vì lục nhất tổ hợp là thiên thuỷ tụng quái, nếu cách cục không hợp cách sẽ có việc kiện tụng.

Tinh bàn cách cục nếu sơn tinh phản lệnh sẽ bất lợi nhân khẩu; nếu hướng tinh phản lệnh thì bại tiền tài. Do là cục vượng sơn hoặc vượng hướng, nên có thể nói tóm lại: đương vận thì cát, hết vận sẽ có hung tai.

9

9

.

.

l

l

ư

ư

u

u

t

t

h

h

n

n

-

-

-

-

-

-

d

d

ư

ư

ơ

ơ

n

n

g

g

t

t

h

h

u

u

n

n

â

â

m

m

n

n

g

g

h

h

c

c

h

h

c

c

á

á

c

c

h

h

n

n

h

h

t

t

v

v

Trung Châu phái sở truyền lưu thần quyết, tác dụng cao nhất của lưu thần quyết hoàn toàn ở tại thủy, vị trí lưu thần kị thấy thủy, khẩu quyết khởi lưu thần của Trung Châu phái:

(19)

19

thị vi không vị kị lưu thần”

lưu thần cụ thể khởi pháp thì trước tiên xem hướng lập là âm hay dương, sau đó cứ căn cứ dương thuận âm nghịch lấy cách một vị trên 24 sơn làm lưu thần.

Ví dụ: tý sơn ngọ hướng kiêm nhâm bính, ngọ là âm nghịch số cách nhất vị lấy tị sơn làm lưu thần, như nhâm sơn bính hướng kiêm tý ngọ, bính là dương thuận hành cách nhất vị lấy đinh sơn làm lưu thần.

Tưởng Đại Hồng viết: “phiên hướng phi lâm bính, thuỷ khẩu bất nghi đinh”, nhiều phái lý giải câu này mà không biết rằng Tưởng thị nói về lưu thần. Tức tại vị trí lưu thần là đinh kị thấy thuỷ. Vận vượng thì không sao, vận thoái tất đại bại tài.

Lưu thần quyết chỉ dùng trong trường hợp kiêm hướng, nếu là hạ quái thì không khởi lưu thần quyết.

1

1

0

0

.

.

l

l

i

i

n

n

h

h

t

t

h

h

n

n

c

c

h

h

í

í

n

n

h

h

t

t

h

h

n

n

t

t

ư

ư

ơ

ơ

n

n

g

g

đ

đ

c

c

Âm dương nhị tự lưỡng tinh thần, long thuỷ tương giao lý khí chân, khảm vị sinh lai vi chính hướng, ly cung khắc nhập thị linh thần,

Huyền không học lấy tinh hợp thập với tinh đương vận gọi là linh thần, tinh đương vận là chính thần.

Nhất Cửu tương đối: nhất vận khảm cung là chính thần vị, li cung là linh thần vị; cửu vận li cung là chính thần vị, khảm cung là linh thần vị.

Nhị Bát tương đối: nhị vận khôn cung là chính thần vị, cấn cung là linh thần vị; bát vận cấn cung là chính thần vị, khôn cung là linh thần vị .

Tam Thất tương đối: tam vận chấn cung là chính thần vị, đoái cung là linh thần vị; thất vận đoài cung là chính thần vị, chấn cung là linh thần vị.

Tứ Lục tương đối: tứ vận tốn cung là chính thần vị, càn cung là linh thần vị; lục vận càn cung là chính thần vị, tốn cung là linh thần vị.

Ngũ vận 10 năm đầu khôn cung chính thần vị, cân cung là linh thần vị; ngũ vận 10 năm sau cấn cung chính thần vị, khôn cung là linh thần vị(hợp thập, hợp thập ngũ)

Dụng pháp linh thần các phái bất đồng, nhưng đều thống nhất linh thần cần thủy do đó tại vị trí linh thần bố trí thủy động thì vượng tài thôi cát. Kỳ thực nếu chỉ vậy thì có khi chiêu hung tai.

Trung Châu phái sở truyền linh thần dụng pháp: linh thần là ở vị trí ngũ hoàng của vận bàn, vận bàn ngũ hoàng đến đâu linh thần tại đó. Như vận 7 thì ngũ hoàng đến chấn, vậy chấn cung là linh thần, tam bích là linh thần tinh. Như vận 3 thì ngũ hoàng đến đoài, vậy đoài cung là linh thần, thất xích là linh thần tinh. Linh thần dụng pháp Tưởng Đại Hồng tôn sư hiểu thấu triệt nhưng nói bằng ẩn ngữ(minh tri bất minh ngôn), viết: “linh chính bất minh, sinh vượng tất hữu bệnh hĩ. Nhược tri kì cố, nhi dĩ chính thần trang tại hướng thượng vi sinh nhập, nhi dĩ linh thần trang tại thủy thượng vi khắc nhập, tắc linh đường chính hướng khởi bất kiêm thâu kì diệu hồ”.

(20)

20

Vận 7 tý sơn ngọ hướng 461---826---648

559---372---194 915---737---283

Vận bàn ngũ hoàng đến chấn, tức tam bích là linh thần.

Tưởng Đại Hồng tôn sư nói “linh thần trang tại thủy thượng vi khắc nhập” thực chất “thủy thượng” tức là “hướng tinh”, tịnh phi là “trang tại hướng thượng”, nói “hướng” tức là nói “thủy” vậy. Hướng tinh tam bích phi nhập càn cung, nên tại càn cung cần phải khai môn khai lộ chính là “bát thủy nhập linh đường”. Tại khảm cung và trung cung cũng có tam bích nhưng là sao vận, sơn chứ không phải sao hướng nên tam bích tại khảm cung và trung cung không phải là linh thần (phải đặc biệt lưu ý điều này).

Hướng thủ bát bạch sinh lục bạch là sinh nhập. Càn cung tam bích linh thần khắc nhị hắc là khắc nhập. Chính hợp câu nói của Tưởng Đại Hồng tôn sư: “chính thần trang tại hướng thượng vi sinh nhập, nhi dĩ linh thần trang tại thuỷ thượng vi khắc nhập”.

Tổng hợp linh thần dụng pháp:

nhất linh thần tức là vị trí ngũ hoàng trên vận bàn. nhị linh thần chỉ tồn tại ở hướng tinh.

Tam tại hướng sơn tinh phải sinh hướng tinh(sinh nhập) tại linh thần cung vị hướng tinh linh thần phải khắc sơn tinh(khắc nhập)

tứ linh thần cung vị khai môn khai lộ, mới thông khí được cho hướng thì mới đắc linh thần dụng pháp, mới phát tài lộc.

Nam Phong: linh thần pháp cũng là một trong những bí mật của Trung Châu phái, ngẫm kỹ về quái khí Hậu thiên thì thấy đây là chính pháp. Linh thần pháp ở một mức độ nào đó có thể sánh cùng Trung Châu Tam Quyết. Quyết chỉ có bấy nhiêu nhưng người học không nên gò bó trong đó mà cần nhìn xa hơn để thấu lẽ tự nhiên, như trường hợp bên trên nếu đắc linh thần thì không có nghĩa là tất cả mọi người trong trạch đó đều phát tài như nhau. Thấy rằng càn cung trợ cho li cung nên là Càn phụ phù Li nữ. Con gái giữa phát trước, sau đó do càn 6 ở hướng được sinh nhập nên con gái phát mà không quên cha, cha cùng được hưởng.... Cổ nhân truyền quyết mà không chỉ hết cách dùng, người học cần tinh tế mà thẩm xét. Ví dụ 1: (chị macchulan hỏi) Nhà xây và nhập trạch năm 2004 (tức vận 8 ) nhà 167 độ thì tinh bàn sẽ là ; 572937 759 661 483 215 126 848 394

Vận tinh Ngũ hoàng đến Khôn nên 2(khôn) là Linh thần. 1. Linh thần 2 của hướng ở tại Tốn. Tỷ hòa cùng sao sơn 5.

2. Tại hướng sao hướng là 7, không phải sao vượng(8), lại bị 9 tử hỏa khắc. Cả 2 điều không hợp.

Chỉ cần 1 trong 2 điều không phù hợp như trên đã không thể thực hiện Linh thần pháp rồi. Linh thần pháp mỗi vận có rất ít, không nhiều đâu(đồ quý thì đương nhiên là phải ít). So với Ngũ quỷ vận tài pháp của Tam hợp thì Linh thần pháp của Trung Châu cũng tương đương đó nhưng có lợi thế là không cần dùng bùa chú.

(21)

21 Ví dụ 2: (anh Cưu An hỏi)

Sửu sơn Mùi hướng vượng sơn vượng hướng: 376---731---558

467---285---913 822---649---149

Linh thần tại cung Cấn, hai cung Cấn Khôn toàn Thổ cả, linh thần không được sinh nhập, khắc nhập nên không dùng được Linh thần pháp.

Tuy nhiên có Thôi quan thủy dùng được, tại Canh đặt thủy sẽ vượng tài.

1

1

1

1

.

.

â

â

m

m

d

d

ư

ư

ơ

ơ

n

n

g

g

t

t

ư

ư

ơ

ơ

n

n

g

g

đ

đ

i

i

,

,

t

t

o

o

h

h

ư

ư

n

n

g

g

h

h

p

p

t

t

h

h

p

p

Khi sơn tinh với vận tinh hợp thành 10 hoặc hướng tinh với vận tinh hợp thành 10 thì gọi là hợp thập cục. Hợp thập thì âm dương thông khí, do đó hợp thập là cát cục.

S

S

ơ

ơ

n

n

b

b

à

à

n

n

h

h

p

p

t

t

h

h

p

p

:

:

Sơn tinh với vận tinh tại 9 cung vị toàn bộ hợp thập là vượng đinh cục, tức vượng nhân khẩu, thích hợp xây dựng nhà cửa. Như vận 7 Tý sơn Ngọ hướng:

461---826---648 559---372---194 915---737---283

Sơn tinh hợp thập cục với dương trạch thì khi bố trí phòng nên chọn nơi sơn tinh sinh vượng là đắc cách. Như tinh bàn bên trên thì bố phòng nên chọn Khảm cung, Ly cung hoặc Khôn cung. Kị bố phòng tại Chấn, chủ nữ đương quyền nhưng sinh bệnh tật triền miên vì sơn tinh tại Chấn phạm phục lệnh. Tại Tốn cung sơn tinh cũng phạm phục lệnh, nhưng vì là Nhất Tứ đồng cung nên rất có lợi khi dùng làm phòng cho trẻ con, sẽ thông minh học giỏi, tuy nhiên cần lưu ý: nếu hình thế bên ngoài nhà tại tốn cung không hợp(dơ bẩn, cây cối um tùm, hình thế đổ nát..) thì phải tránh vì sẽ sinh người ngu dốt hoặc đam mê tửu sắc mà thôi.

Hướng tinh thuận phi, thủy thần phạm thượng sơn không tốt, nếu tại cung Khảm hình thế vừa có sơn, vừa có thủy, hoặc có nhà cửa cao hay không gian thóang đãng, không áp bức, có lộ lớn hay ngã ba, ngã tư thì chủ tài đinh lưỡng vượng. Khôn cung hướng tinh bát bạch phản lệnh, tuy nhiên trong vận 7 bát bạch là sinh khí tinh nên vượng mà không hung, tại Khôn cung nên khai môn hoặc bố trí đồ vật động, không nên tĩnh. Qua hết vận 8, bát bạch thành thoái khí, phản lệnh thành hung, cung này nên để tĩnh, không nên động, nếu động thì phản lệnh thành hung sát.

H

H

ư

ư

n

n

g

g

b

b

à

à

n

n

h

h

p

p

t

t

h

h

p

p

:

:

Hướng tinh với vận tinh tại 9 cung vị toàn bộ hợp thập là vượng tài cục, thích hợp làm nơi kinh doanh hoặc làm nhà ở. Như vận 7 Ngọ sơn Tý hướng:

164---628---846 955---273---491

Figure

Updating...

References

Related subjects :