• Nenhum resultado encontrado

Mùa Gặt - Phan Thế Hữu Toàn

N/A
N/A
Protected

Academic year: 2021

Share "Mùa Gặt - Phan Thế Hữu Toàn"

Copied!
127
0
0

Texto

(1)

MÙA GẶT

PHAN THẾ HỮU TOÀN

1

Mưa trút nước dầm dề suốt mấy ngày đêm khiến cho những cánh đồng làng quê Hòa Phong sau mùa vụ thu hoạch lúa hè thu lênh láng nước. Những đụn mây đen mệt mỏi lượn lờ trên bầu trời chiều đông xám xịt. Từ đầu xóm ngước nhìn ra cánh đồng chỉ thấy một màu trắng xóa. Gió ầm ào giận dữ xô đẩy lũy tre bên con đường làng cuối xóm Đông Thuyền chao nghiêng. Tiếng gió rít từng hồi dài như muốn cuốn đổ mấy ngôi nhà nằm sát mé đồng sau những cú giật đảo, chao nghiêng. Thỉnh thoảng, tiếng sấm sét lại gầm gừ, dội xuống không trung những ánh chớp màu lân tinh, xé toạc một góc trời rạn vỡ hình rễ cây.

Từ buổi trưa, trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam đã truyền đi bản tin dự báo thời tiết xấu, áp thấp nhiệt đới đang mạnh dần lên thành bão ở biển Đông, cơn bão số 8. Những con cua đồng lần lượt ngoi lên khỏi hang đang ngập nước, bò ngược chạy xuôi trên bờ cỏ để tìm nơi lẩn tránh lũ lụt. Sẩm tối, tiếng ếch nhái réo rắt liên hồi tạo nên bản hòa tấu đồng quê mùa lũ, nghe buồn héo hắt. Buồn nhất vẫn là tiếng vạc, tiếng cò nôn nao, xao xác. Màn đêm, mưa gió và tiết trời se lạnh bao trùm khắp xóm làng…

Nghe đài báo bão, ông Chín Lân, Chủ tịch xã Hòa Phong cử giao liên xuống từng thôn xóm, hợp tác xã để triệu tập cuộc họp khẩn cấp với xã đội, công an và các đoàn thể phụ nữ, thanh niên, nông dân, bàn phương án phòng chống lụt bão. Kết thúc cuộc họp, những cán bộ trong Ban chủ nhiệm, Ban kiểm soát các hợp tác xã quàng tấm nhựa che mưa, lầm lũi đạp xe xuống từng đội sản xuất, thúc nhắc người dân chặt tre, chẻ lạt, giằng chống mái nhà, đắp bờ chặn nước, chuẩn bị đèn pin, đèn dầu, đề phòng bão lụt có thể ập đến lúc nửa đêm, mờ sáng. Cán bộ, dân quân du kích được lệnh thường trực xuyên suốt ngày đêm để làm nhiệm vụ bảo vệ trụ sở xã, hợp tác xã, trạm y tế và các kho thóc.

Dường như không yên tâm nên ông Chín Lân trực tiếp cất công đi kiểm tra đột xuất các kho thóc. Khi tới kho thóc số 2 của Hợp tác xã Hòa Phong 1, nhìn thấy Phó Chủ nhiệm Năm Dương đang ở đó, Chín Lân đưa tay vuốt nước mưa trên mặt, cất tiếng đùa:

- Coi bộ anh Năm muốn chuyển sang làm thủ kho hả?

- Phải xuống tận nơi thúc nhắc anh em giằng chống mới chắc chớ anh. Mưa to, gió lớn quá. Anh thấy đó, kho thóc này ba bên đều giáp mé ruộng, bên còn lại cận kề con mương nhánh số 4. Tui lo lắm…

- Không lo sao được. Hơn hai chục tấn thóc chớ phải ít đâu anh.

- Ừ. Công tác chỉ đạo sát sao như vậy là tốt rồi - vừa nói Chín Lân vừa nắm tay, kéo Năm Dương ra góc mái hiên, dặn dò:

(2)

- Giông gió, lũ lụt là một chuyện, nhưng anh phải nhắc du kích, thủ kho canh gác hết sức nghiêm ngặt. Không loại trừ những phần tử xấu lợi dụng tình hình thời tiết bất ổn để đột nhập trộm cắp, cướp đoạt thóc.

Dứt lời, Chín Lân siết chặt tay Năm Dương như trao gửi niềm tin, rồi nhanh chân bước ra xe đạp dựng ngoài sân gạch. Năm Dương đứng nhìn theo cho tới khi bóng dáng ông Chín Lân mờ dần trong làn mưa, lòng cảm nhận những lời dặn dò của Chủ tịch xã như dự báo một điều chẳng lành có thể xảy ra trong nay mai.

Chín Lân nổi tiếng trực tính, mẫn cán. Ông thuộc mẫu người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và không lo ngại bất kỳ một lực cản nào từ những kẻ quyền lực cá nhân, cơ hội, bè phái, độc đoán và bảo thủ. Sinh trưởng và hoạt động cách mạng trong chiến tranh ngay trên vùng đất này, từng chỉ huy đội du kích của xã đánh địch nhiều trận, nên ông thuộc nằm lòng từng đường làng, ngõ xóm, lũy tre, gò bãi… Đồng đội của ông hồi đó có nhiều cán bộ - chiến sĩ kiên trung, dũng cảm trong chiến đấu, lập nhiều chiến công trong những trận đánh từ địa bàn Đông Thuyền, Phước Thành Đông, Phước Thành Nam, Gành Bà cho đến Núi Đất, Gò Da, Hòn Sặc, Gành Tân Mỹ…

Một năm trước ngày giải phóng, Mười Đông là Bí thư Chi bộ xã Hòa Phong. Đảm nhiệm chức trách lãnh đạo đảng ở địa phương thêm hai năm nữa, Mười Đông về thành phố biển Nha Trang nhận công tác tại một cơ quan đoàn thể cấp tỉnh theo quyết định điều động, phân công nhiệm vụ của tổ chức đảng cấp trên. Bốn Xuyên cũng là đồng đội cũ của Mười Đông và Chín Lân trong những năm chiến tranh, được Huyện ủy Tuy Hòa biệt phái về làm Bí thư Chi bộ. Chín Lân được phân công làm Chủ tịch, Ba Hưng là Phó Chủ tịch kiêm Trưởng công an xã. Nhiều anh em khác được rèn luyện, trưởng thành trong phong trào đấu tranh cách mạng từ thời kháng chiến cũng được bố trí nhiệm vụ công tác ở các cơ quan, chính quyền từ xã đến huyện. Nhiều người ban ngày đến công sở làm việc, ban đêm phải ôm sách vở bước vào lớp học bổ túc văn hóa để có đủ điều kiện được tuyển sinh, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ.

Chiến tranh tàn khốc đã trút xuống vùng đất này không ít đạn bom, khói lửa. Nhà cháy, đồng hoang, bờ tre, ruộng mật đều bị cày xới tan tành sau những cuộc càn quét ráo riết của địch, người dân vội vã gồng gánh sơ tán khắp nơi để lánh nạn. Bên kia chiếc cầu Hồ Ba bắt qua con mương chính Nam ở Mỹ Thạnh Trung là con đường đất dẫn vào núi Hương. Cách chiếc cầu vài trăm mét về hướng Nam, một căn nhà mái ngói cao to, tọa lạc trên thửa đất rộng lớn có vườn cây trái xanh mướt. Trên thửa đất ấy và trong căn nhà đó là cái nôi sinh sản những kẻ cầm đầu đảng Đại Việt, quyết liệt chống phá chính quyền cách mạng từ thời Việt Minh…

Sau ngày miền Nam giải phóng, sản xuất nông nghiệp được xác định là mũi nhọn kinh tế. Người dân từ những vùng tạm cư trong chiến tranh lần lượt trở về quê cũ, bám ruộng đất, cày cấy gieo trồng ngô, khoai, lúa, sắn… để sinh sống. Chín Lân cùng nhiều cán bộ xã Hòa Phong tăng cường bám sát cơ sở, vận động người dân tích cực thực hiện phong trào tiết kiệm chi tiêu, huy động nông dân tập trung công sức làm thủy lợi, ủ phân xanh, đào đắp kênh mương tưới tiêu nội đồng, khai hoang phục hóa, mở rộng diện tích canh tác cây lúa và các loại nông sản, hoa màu… để giải quyết những yêu cầu cấp thiết trong đời sống. Sau một cuộc tập trung ráo riết xóa bỏ tàn dư phong kiến chiếm hữu ruộng đất và bóc lột địa tô bằng giải pháp xây dựng tập đoàn sản xuất ở từng thôn, mô hình hợp tác xã nông nghiệp bắt đầu khởi động. Hòa Bình 1 là hợp tác xã nông

(3)

nghiệp đầu tiên hình thành ở vựa lúa Tuy Hòa. Chỉ sau một vụ sản xuất, nhiều hợp tác xã nông nghiệp khác lần lượt ra đời trong bối cảnh còn lắm khó khăn, thách thức.

Năm Dương là một trong những cán bộ chủ chốt của Hợp tác xã Hòa Phong 1. Từng là bộ đội cầm súng chiến đấu ở nhiều chiến trường nóng bỏng hơn chục năm cuối của cuộc chiến tranh, nhưng Năm Dương trầm tính, hiền lành và nhân hậu, nên được nhiều người yêu mến. Đến vụ mùa thu hoạch, xã viên gặt hái ở cánh đồng nào Năm Dương đều có mặt nơi đó. Ông tất bật xắn quần lội ruộng, nhặt nhạnh từng gié lúa rơi vãi dưới chân gốc rạ, rồi nhẹ nhàng nhắc nhở bà con xã viên phải biết quý từng hạt thóc. Nghe đội sản xuất nào báo tin đêm qua kẻ gian cắt trộm lúa ở cánh đồng này, thửa ruộng kia, Năm Dương cùng ông Ba Hạnh, Chủ nhiệm hợp tác xã cọc cạch xe đạp đến tận nơi xem xét, rồi lên gặp Trưởng công an xã đề nghị khẩn trương điều tra, truy tìm thủ phạm. Trong mỗi hạt thóc của tập thể hợp tác xã có cả mồ hôi, nước mắt xã viên, không thể để thất thoát hay rơi vào tay kẻ gian. Năm Dương thường nói như thế trong những cuộc tiếp xúc với xã viên và các cuộc họp hành, làm việc với Ban chủ nhiệm, Ban Kiểm soát hợp tác xã.

Nói cũng phải. Những năm đầu sau khi đất nước thống nhất, người dân ở miền Nam phải xây dựng lại quê hương từ hoang tàn, đổ nát sau chiến tranh. Đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn chật vật, mọi nhu cầu ăn uống, sinh hoạt thường nhật đều phải tính toán, dè xẻn từ hạt thóc cho tới củ khoai. Đến bữa ăn, mở nắp nồi cơm của những gia đình đông con chỉ thấy phần nhiều là khoai lang, khoai mì, bắp tẻ. Lâu lắm mới có một bữa cơm trắng đãi khách là người bà con ruột rà ở tận thành phố về quê thăm ông bà, thân tộc.

Hồi còn tập đoàn sản xuất, mỗi khi đến mùa vụ thu hoạch, xã viên bám đồng tập trung gặt lúa ban ngày. Sẩm tối, từng tổ, đội tụ tập ở sân kho để đạp lúa, giũ rơm bằng chân, tay. Đặt hai bó lúa nối ngọn với nhau, hai tay nắm cán hai chiếc cào cỏ nhỏ được làm bằng thân cây mật cật, cây tre và cây săng lẻ, chống xuống sân gạch để tạo điểm tựa, bàn chân trần đạp gói gọn hai bó lúa cuộn lùi về phía sau để hạt thóc rơi ra khỏi gié. Kế đến, dùng cào cỏ đập bó lúa cho rơi rụng những hạt thóc còn bám lại trên gié lúa, rồi dùng chân đạp cuộn tròn thêm vài lượt nữa mới đến công đoạn giũ rơm cho sạch thóc. Kế toán và Đội trưởng đội sản xuất trực tiếp cân kiểm số thóc thu được, cập nhật vào sổ sách rồi mới chia rơm tươi để xã viên gồng gánh về nhà cho bò ăn. Đầu vụ thu hoạch mọi người hối hả đạp lúa thủ công kiểu ấy, đêm về tới nhà bàn chân ai cũng rát bỏng, nhưng miếng cơm manh áo thôi thúc xã viên bật dậy ra đồng từ sáng sớm, tất bật với mùa vụ, khiến cho bàn chân cũng “chai” dần.

Chế độ thời gian lao động của xã viên được điều hành bởi hiệu lệnh tiếng kẻng sắt treo ở đầu làng, cuối xóm của từng đội sản xuất. Cày bừa, cuốc góc, dọn bờ, bón lót phân chuồng, nhổ mạ, gặt lúa cho tới hội họp… tất cả đều trông chờ hiệu lệnh tiếng kẻng. Mỗi khi có người trong đội sản xuất qua đời, bà con xã viên ngõ trước, xóm sau đều biết được cũng nhờ vào tiếng kẻng, để rồi họ vội vã xúm xít bên nhau lo việc nghĩa tử. Giáp tết, các đội sản xuất chia phần thịt lợn, nếp thơm, đậu xanh cũng phải gõ kẻng để bà con tập họp ở điểm đến.

Kể cũng lạ, vẫn chiếc búa sắt gõ vào thanh sắt nhặt được từ một mảnh bom hay quả đạn cũ đã rỗng ruột, nhưng mỗi khi nghe tiếng kẻng ở hướng nào, âm thanh ra sao, xã viên đều nhận biết ngay đó là hiệu lệnh của đội sản xuất nào. Nguồn thu nhập của xã viên lúc bấy giờ phụ thuộc vào công điểm được thư ký đội sản xuất theo dõi, cập nhật sau mỗi ngày lao động. Đến cuối vụ tập đoàn cân đối hiệu quả sản xuất để chi trả bằng thóc. Mười điểm vụ này quy đổi chỉ được hai cân

(4)

thóc, vụ kia có thể tăng thêm nửa cân. Xã viên cần gia công, chỉnh sửa công cụ lao động từ lưỡi cày, chiếc rựa, lưỡi liềm, lưỡi cuốc… đều phải mang đến tổ cơ khí của tập đoàn sản xuất để thợ rèn trui lửa, đập, dũa, mài, gọt. Chi phí tiền công được tính bằng điểm theo định mức do hợp tác xã dự toán từ đầu vụ sản xuất để khấu trừ vào công điểm của xã viên có công cụ lao động được gia công.

Thời kỳ tập đoàn sản xuất kết thúc chóng vánh, thay vào đó là mô hình hợp tác xã nông nghiệp với cơ cấu tổ chức nhân sự, phương pháp quản lý điều hành sản xuất được đổi mới, quy mô bài bản hơn.

Cái hôm ông Năm Dương báo tin cho bà con xã viên biết hợp tác xã mới mua máy cày MTZ80 và máy tuốt lúa vận hành bằng dầu diezen, thằng Toản con nhà ông Tám Bình ở mé ruộng gò Làng tình cờ nhìn thấy trước. Nó phóng xe đạp hối hả trên con đường đất lồi lõm dọc bờ mương nhánh N4 chạy vô tới cầu Xéo ở xóm Đông Thuyền. Gặp bọn trẻ chăn bò ở dọc bờ kênh, thằng Toản dừng xe, thở hổn hển, miệng lắp ba lắp bắp, nói:

- Tụi… tụi, cái tụi bay ra sân kho hợp… hợp tác xã mà coi. Hợp… hợp tác xã mới mua cái… cái máy cày to lắm.

Nhìn thằng Toản nói lắp, bọn trẻ chăn bò phì cười, nhưng chẳng đứa nào hình dung nổi dáng dấp chiếc máy cày ra sao. Chiều hôm đó, nhiều người trong làng kéo nhau ra xem. Nhìn cái máy cày thực nghiệm trên cánh đồng làng với giàn lưỡi cày thép hình chảo, xới tung mặt ruộng thành những luống đất thẳng tắp trông thật thích mắt, nhiều người trầm trồ khen thiết bị máy móc nông nghiệp hiện đại. Năm Dương hồ hởi nói:

- Hợp tác xã đưa máy cày, máy tuốt lúa về đây để từng bước công nghiệp hóa trong sản xuất nông nghiệp, giải phóng bớt sức lao động tay chân, để bà con xã viên có thời gian tập trung vào những khâu sản xuất khác chưa thể can thiệp được bằng thiết bị máy móc.

Ông Sáu Thử mải mê đứng nhìn chiếc máy cày, miệng cười hả hê vui sướng, trong khi bà Năm Nhâm lẩm bẩm lo ngại:

- Kiểu này những mùa vụ mùa sắp tới, công cán cày bừa bằng trâu, bò của xã viên sẽ giảm sút, công điểm cũng bớt đi, lượng thóc chia được mỗi vụ sẽ ít hơn trước là cái chắc.

Sáu Thử tỏ vẻ bực tức, nói như trách:

- Sao bà nông cạn, lạc hậu dữ vậy. Cái cảnh con trâu đi trước, cày bừa theo sau đã đeo bám nông dân mình từ nhiều đời nay rồi. Bây giờ có máy móc thay cho sức người, lẽ ra bà nên mừng mới phải chớ…

Chỉ tay về phía chiếc máy cày đang thử nghiệm trên đồng ruộng, bà Năm Nhâm tỏ thái độ cáu gắt:

(5)

Lo ngại phát sinh căng thẳng giữa hai người, Năm Dương nhỏ nhẹ giải thích:

- Nói vậy chớ hợp tác xã mình chỉ mới đủ sức đầu tư mua sắm hai chiếc máy cày, bốn máy tuốt lúa, trong khi diện tích sản xuất hàng trăm hec-ta chứ đâu phải ít. Có máy cày đẩy nhanh tiến độ làm đất cho kịp thời gian sản xuất, hợp tác xã sẽ tính toán tăng vụ sản xuất trong năm. Lao động nhàn rỗi sẽ được huy động, khai thác hiệu quả để mở rộng diện tích trồng sắn, bắp, mía, khoai tại cơ sở kinh tế mới của hợp tác xã ở miền núi.

Ấy là chuyện cái máy cày, còn máy tuốt lúa phải chờ đến vụ thu hoạch bà con xã viên mới tận mắt chứng kiến chiếc máy ngốn mỗi lúc vài bó lúa vào cửa miệng, cuộn ầm ào theo vòng quay chiếc trục hình ống có răng sắt đan xen với nhau. Trong cái nháy mắt, những bó lúa được chiếc máy tuốt bóc tách thóc hạt đẩy sang một bên, một bên còn lại phun ra từng nắm rơm chất chồng cao ngất trên sân kho hợp tác xã. Rơm chia phần cho xã viên chở về phơi nắng trên những đường thôn, ngõ xóm. Đến cuối buổi chiều mới thu gom rơm, phần của nhà ai nấy quét dọn, quét cả bụi đất có lẫn những hạt thóc còn sót trong rơm rạ rơi vãi trên mặt đường, đổ hết vào chiếc mủng tre mang ra mương nước để gạn đãi, lấy thóc đem phơi. Những hạt thóc mót được, dành riêng để đổi lấy bún tươi, bánh bò, mắm, muối, cá khô… Ví như mỗi cân thóc được hai cân mắm cái, trút hết vào chiếc ú sành được chế tác thủ công từ đất nung đã tráng men nâu, để dành ăn dần trong tuần. Có người đã từng bắt gặp kẻ bán mắm giở trò tinh quái khi cố tình cân đong theo kiểu nước nhiều hơn cái, chờ đến trưa tranh thủ lúc ngồi nghỉ mệt bên bụi tre cạnh con mương tiểu nào đó, đảo mắt liếc qua nhìn lại không thấy ai mới vội vàng lật chiếc nón lá trên đầu, múc nước dưới mương đổ thêm vào đôi nừng(*) tre trộn lẫn mắm cái. Giữa thời buổi khó khăn chồng chất, người bán mắm dọc đường làng quê giở trò dối trá từ xóm này đến xóm khác. Ở sân kho hợp tác xã, đã có trường hợp xã viên lén lút trộm cắp vài cân lúa cất giấu trong gánh rơm được chia, nhưng mới ra tới cổng đã bị du kích phát hiện chặn lại, thu giữ. Cũng may là anh du kích còn nể nang tình làng nghĩa xóm, không níu chân, lập biên bản chuyển giao cho hợp tác xã xử phạt bằng công điểm, cuối vụ thu hoạch khấu trừ vào số lúa chi trả cho người sai phạm.

*

Bão quần lượn, giằng dọc suốt đêm. Cả chục năm rồi làng quê Hòa Phong mới hứng chịu một trận cuồng phong khốc liệt. Trời vừa sáng tỏ mặt người, giông bão mới tan. Hàng chục nhà tranh tốc mái. Dẻo dai vững chãi như mấy bụi tre ở mé đồng cũng bật gốc đổ nghiêng, nhiều cây cối khác gãy ngã tả tơi, đường làng rác lá phơi đầy, những đoạn kênh sạt lở nham nhở, tan hoang.

Quá nửa đêm, Dư Tiệm, Năm Trương cùng cánh thanh niên cuối xóm Phước Thành Nam í ới rủ nhau cầm đèn pin đi soi bờ tre, ruộng mía, đến sáng họ mang về những xâu chim nhác, cúm núm, cu đồng, cuốc lủi…

Trong lúc Năm Trương đang đứng bên bụi tre cạnh cửa cống dẫn nước ra mương tiểu ở ngã ba đi về hai xóm Phước Thành Nam và Đông Thuyền, mắt ngắm nghía xâu chim, ông Hai Lực cọc cạch xe đạp ngang qua nhìn thấy, cất tiếng trầm trồ:

- Nhiều dữ hén. Mầy cho tao xin con cuốc lủi nấu chén cháo hành, nếu không thì nấu tô canh đu đủ bồi bổ cho người bệnh được đó mậy.

(6)

Năm Trương trố mắt ngạc nhiên:

- Ủa, chớ ai bệnh vậy chú Hai?

- Ông già thằng Hân chớ ai. Ổng sốt li bì cả tuần. Bốc mấy thang thuốc nam của thầy Hai Thức ở Hòa Đồng uống mấy bữa nay, thấy cũng đỡ chút ít.

- Phải vậy thì chú Hai cứ lấy một cặp nấu cho ổng chớ một con thì nhằm nhò gì.

Dứt lời, Năm Trương đặt xâu chim xuống đất, chọn hai con cuốc lủi mượt lông, trong khi ông Hai Lực rút bọc thuốc rê đúng gốc Kỳ Lộ, khéo léo vấn một điếu rồi bật lửa rít hơi dài, nhả từng cụm khói lan tỏa. Năm Trương, Hai Lực chưa kịp rời khỏi ngã tư, thì cánh thanh niên xóm Đông Thuyền vác lưới, gánh lờ, quảy giẹp, tất tả lội đồng. Dưới ruộng nước thì giăng lưới, thả lờ, trên bờ đặt giẹp tre ở trổ nước đổ xuống, lấy rác cỏ, bùn đất chèn kỹ những khoảng trống. Hơn chục phút sau, tấm lưới một dính đầy những con cá rô đồng mập mĩm, cá trê đen trũi. Chờ lâu hơn chút nữa, lội xuống ruộng nước vớt những chiếc lờ tre lên thấy cả mớ cá sặc lấp loáng vảy bạc, lên bờ trút giẹp ra từ ô cửa phía dưới đáy, hàng loạt tép đồng đua nhau búng tí tách trong rổ tre. Cầm một con tép sống, vặt đầu, bỏ vào miệng nhấm nháp mới cảm nhận hết vị ngọt của tép. Tép tươi đem về nhà, đong vài lon gạo ngâm nước sạch cho mềm rồi bỏ vào cối đá để xay lấy nước bột đúc bánh xèo. Cầm khúc tàu chuối vạt nghiêng, chấm mỡ lợn quét trên mặt khuôn sắt hình tròn, đổ nước bột gạo tráng kín mặt khuôn, bỏ vào đó chục con tép đồng rồi dặm thêm vài cọng giá đỗ, đậy nắp lại trong chốc lát, cái bánh xèo chín giòn thơm phức. Biết vậy, nhưng giữa thời buổi đời sống kinh tế cực kỳ khó khăn, đâu ai dám nghĩ tới những bữa ăn sang trọng. Thường thì vốc một nắm tép nấu canh với mớ rau má nhổ được trong đám mía hay ngoài bờ ruộng từ sáng sớm còn đậm hơi sương. Còn lại phần nhiều dành làm mắm tép. Nhặt hết tạp chất, rửa sạch tép bằng nước đun sôi để nguội có pha chút rượu trắng, để thật ráo mới cho vào cối giã nhỏ. Trên mỗi lớp tép xếp trong bình nhựa hoặc bình thủy tinh là một lượng muối và gạo rang đã giã nhỏ. Đậy kín bình lại đưa ra ngoài dang nắng một vài hôm, đã có món mắm tép đậm đà hương vị đồng quê.

Cách nơi cánh thanh niên giăng lưới, thả lờ, đặt giẹp vài thửa ruộng, hai ông nông dân sõi nghề bắt cá bằng nơm tre đang tất bật lội ruộng. Họ vung tay hai chiếc nơm chụp xuống nước theo mỗi nhịp bước. Chốc chốc, một người dừng lại, giằng mạnh chiếc nơm tre xuống mặt ruộng, đưa tay vào bên trong bụng nơm, khuấy nước dọc theo những thanh tre, bắt lên con cá tràu to bằng cổ tay, bỏ vào chiếc giỏ đan bằng nan tre đeo sau lưng. Gần trưa, hai tay nơm rủ nhau bước lên gò đất. Một người lấy ra nắm muối ớt xiêm gói gọn trong miếng lá chuối héo, nửa xị rượu gạo thứ thiệt mua được của ai đó lén lút chưng cất và một cái ly nhựa nhỏ xíu lận trong túi quần. Người còn lại men theo lối tắt qua mấy đám mía, đi vô mé xóm xin mớ rơm khô. Một que tre vạt nhọn đâm xuyên từ miệng đến đuôi con cá tràu còn sống, cắm ngược đầu cá xuống đất rồi bật lửa đốt rơm trui con cá cháy vảy. Đặt con cá vừa chín trên tàu lá chuối, gạt bỏ lớp vảy cháy đen, ngửi thấy mùi thơm rất riêng của cá lẫn rơm. Bóc tách một miếng cá nướng trui, chấm chút muối ớt xiêm cay cay đưa vô miệng, nhấm nháp chút rượu gạo thơm nồng mới thấy đã cơn thèm món ăn dân dã đồng quê.

Khi nước lũ rút xuống, kẻ này vác nhá đi giăng ở trũng nước chảy chậm bên ruộng rộc, ruộng bầu, người kia vác cần tre ra mương câu cá. Tô canh chua cá tràu nấu lá giang nóng hổi, thơm ngon, có chút vị cay của ớt xiêm và xiên tre nướng cá rô đồng béo ngậy, nhưng nồi cơm nhiều nhà

(7)

vẫn còn độn đầy khoai sắn. Không ít nhà thiếu đói giáp hạt phải viết đơn xin mượn thóc của hợp tác xã, chờ đến vụ thu hoạch khấu trừ vào công điểm gia đình đó thu được.

Trong số những gia đình khó khăn chật vật nơi thôn này, xóm nọ ở xã Hòa Phong phải kể đến ông Chín Màng. Nhà bên miệt Bầu Hồng, vợ chồng ông cùng sáu đứa con nheo nhóc sinh sống trong căn nhà tranh vách đất nhỏ hẹp, đứa học nhiều nhất chưa hết lớp ba. Buổi sáng tụi nhỏ lội đồng bắt cua, đến chiều vợ chồng ông Chín đập dập từng con cua bỏ vào ống trúm dài tầm bảy tấc, được làm bằng ống tre đã vạt vỏ, đục thông vách ngăn bên trong mắt tre và khoét lỗ thông hơi bên thành ống. Chiều tối, gánh vài chục ống trúm ra đồng, thả xuống bên mép bờ ruộng để bẫy lươn. Những con lươn ham mồi, ngửi thấy mùi cua chết, rủ nhau chui vào ống trúm kiếm ăn nhưng không thể nào ra được vì miệng trúm đã có cái toi hình phễu đan bện bằng những sợi nan mềm và chốt tre cài chắn. Sáng sớm, ông Chín Màng cùng thằng con cả đi thu lượm bẫy trúm gánh về nhà, trút ống trúm ra, cân được ký lươn nào giao cho bà Chín đùm túm trong bao mang ra chợ Mỹ Thạnh Đông để bán, lấy tiền mua mắm, muối, cá khô. Nhà ông Chín Màng ẩm thấp, chật hẹp, cái ăn thiếu trước hụt sau, áo quần hom hem cũ kỹ. Đêm nào trời không mưa, mấy đứa con rủ nhau trải chiếc chiếu lát trên sân đất đã đầm nén dặt dẽ, quét sạch bụi bùn, đặt cục than lửa trong mớ rơm đã vẩy chút nước muối ở góc sân, hun khói đuổi muỗi để ngủ. Gặp lúc mưa gió, cả nhà phải chui rúc chật chội. Lắm lúc dầu hỏa không còn, không gian căn nhà chịu cảnh tối om. Nhiều người trong làng thường nói, cũng may ông trời có mắt, thương người nghèo khó, nên bệnh tật cũng né tránh, không tìm đến họ.

Gần đó, hai anh em thằng Long chẳng hơn kém gì mấy người con ông Chín Màng. Đứa mười một, đứa mười ba. Mẹ mất sớm, sống trong cảnh dì ghẻ con chồng nên tụi nó luôn bị bà Mười Đặng ép buộc lao động suốt ngày, hiếm có thời gian được nghỉ ngơi. Từ cắt cỏ, chăn bò, cuốc đất, bắt cua cho đến hái rau, nấu cơm, gánh nước, xắt bẹ môn, cây chuối để nấu cháo cho lợn… anh em thằng Long đều phải làm tất. Nhiều bữa thằng Long cắt được hai giỏ cỏ chèn chặt, gánh nặng oằn lưng, mới về tới nhà khi ánh chiều sắp tắt, bà dì ghẻ quẳng chiếc bao nhỏ trước sân, buộc phải ra đồng bắt thêm cua đổ vào thùng đất để nuôi ăn mấy chục con vịt đẻ. Thằng Linh teo cơ chân phải, lùa mấy con bò từ phía bờ mương tiểu bên mé đồng về tới nhà khi ánh ngày sắp tắt đã phải hì hục xắt bẹ môn, cây chuối cho đến tối mịt rồi ra chuồng bò trút bao cỏ vô máng, xong việc mới được ăn cơm. Nhiều bữa ăn gần như chỉ có rau, muối. Hôm nào có con cá đồng tát được từ vực ao ở góc ruộng cạnh nhà, bà dì ghẻ gắp miếng ngon ăn trước, hai đứa con chồng vớt vát miếng thừa. Anh em thằng Long bắt cua đồng vỗ béo đàn vịt, mờ sáng mỗi ngày bước vô chiếc mành tre khoanh tròn trên thửa đất phía sau nhà, nhặt được gần hai chục trứng, bà Mười Đặng bỏ hết vô giỏ lát, mang ra chợ bán. Tiền thu được bà dì ghẻ cất kỹ từng đồng, lâu lâu mới mua miếng cá mặn đem về chưng, hay vài con cá trích khô lép kẹp, một lạng mực muối mặn chát để nướng, nhưng hiếm khi hai đứa con chồng được nếm. Mỗi lần có việc cần phải rời khỏi nhà, Mười Đặng tìm cách điều anh em thằng Long ra đồng bắt cua, cắt cỏ để mụ khóa cửa lại. Gặp lúc có công việc, cần phải đi lúc mờ sáng hay sẩm tối, Mười Đặng bí mật bẻ chân nhang đỏ màu phẩm, cắm vào bồ lúa, thạp gạo, phòng khi hai đứa con riêng của chồng lấy trộm. Bản tính đa nghi của Mười Đặng, chưa giàu đã lo mất trộm khiến cho mụ phải giở trò phòng ngừa kiểu đó, chứ anh em thằng Long hiền khô, có bao giờ tụi nó dám nghĩ tới chuyện xén bớt lạng thóc, lon gạo, cho dù trước đó đã có người hàng xóm rỉ tai bày vẽ. Khi thấy hai anh em thằng Long hiếu học, nhiều lần bà Mười Đặng tìm mọi cách cản trở, nhưng người chồng thương con chấp nhận tách ra ăn riêng sau nhiều cuộc cãi vã, xô xát nảy lửa.

(8)

Đâu chỉ riêng trường hợp gia đình ông Chín Màng hay anh em thằng Long, mà nhiều gia đình nông dân ở đồng bằng Tuy Hòa cũng lâm vào cảnh khó khăn chật vật trong bối cảnh kinh tế thời bao cấp.

Từ thành thị đến nông thôn lúc bấy giờ có nhiều loại hàng hóa thiết yếu không được mua bán, trao đổi tự do trên thị trường, thậm chí không được phép vận chuyển từ xã này sang xã khác. Lúa là cây trồng chủ lực trong sản xuất nông nghiệp ở vùng đất này. Muốn mang vài ba cân gạo ra khỏi xã để giải quyết cái ăn cho những con em đi học văn hóa đang tạm trú ở nơi khác, hay đi chăm nuôi người thân lâm cảnh ốm đau, đang điều trị ở bệnh viện… bất kỳ ai cũng phải lận lưng tấm giấy xác nhận của chủ tịch xã có đóng mộc đỏ chót, chứ đâu phải chuyện đùa.

Mỗi hộ gia đình được cấp một quyển sổ mua hàng có màu vàng sẻn từ tấm bìa đến trang ruột bởi chất liệu giấy rơm xơ cộm. Hàng tháng, mỗi hộ cử người nhà đứng xếp thứ tự trước cửa hàng hợp tác xã mua bán để chờ đến lượt được mua phân phối định lượng những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu, như: dầu hỏa, nước mắm, bột ngọt, muối. Mỗi quý, lắm khi đến nửa năm mới có tiêu chuẩn mua vải tám, đờ-nin, săm lốp xe đạp… theo số nhân khẩu đã được ghi trong sổ có đóng con dấu hợp tác xã mua bán hình hột xoài và chữ ký tươi của ông chủ nhiệm. Cán bộ viên chức, công nhân, giáo viên ở các trường học, xí nghiệp, lâm trường, nông trường… được cấp sổ mua lương thực, tem mua vải, phiếu mua chất đốt than đá, thực phẩm đường, thịt… Trong sổ mua lương thực và trên tấm tem phiếu có ghi rõ định lượng được phân phối mỗi kỳ.

Chiếc xe đạp là phương tiện cơ động sang trọng nhất ở nông thôn, nhưng đâu phải nhà nào cũng có. Nhà có tiền mua được chiếc xe đạp, cả xóm rủ nhau đến săm soi, ngắm nghía. Nhà eo hẹp thì mua dần linh kiện để dành, đến khi nào đủ bộ mới đưa tới tiệm để lắp ráp, trả tiền công. Không ít người đi xe đạp có bộ săm lốp tận dụng, chắp vá nhiều khúc, lốp xe cũ mòn đến ló bố vẫn cố chèn lót bên trong. Gặp lúc không may, lốp nổ, bứt phá vành triên thì mang đến cho thợ cặm cụi khâu vá tỉ mỉ bằng sợi cước. Nhà nào còn sót lại chiếc xe máy nhãn hiệu Honda 67, Honda Dame đều phải trùm tấm chăn, dựng trong góc nhà để làm kỷ vật, lâu lâu giở ra ngắm cho vui chớ lấy đâu ra xăng, nhớt mà chạy. Cả xóm có một tiệm sửa xe đạp, một ông nông dân chạy xe thồ. Tiệm sửa xe đạp chỉ có vài thứ cà lê, mỏ lết, kềm, búa, hộp keo vá ruột, hộp mỡ bôi trơn vòng bi may-ơ, trục giữa, cổ xe, cùng vài cây tăm niềng và dụng cụ cào nhám hai mặt ruột xe được làm bằng vỏ lon sữa bò đục lỗ li ti. Người chạy xe thồ chỉ hành nghề khi có bà con trong xóm ốm nặng, cần phải đi bệnh viện cấp cứu lúc nửa đêm, mờ sáng.

Gần ga nước Bầu Hồng có ông Chín Phận, chủ tiệm sửa chữa xe đạp kiêm nghề chạy xe thồ chở người ốm nặng. Mất đứt một phần ống chân trái từ cái hồi còn đi lính của chế độ cũ do dẫm trúng mìn “con cóc” khi trốn khỏi doanh trại lúc nửa đêm, nên phải gắn chân gỗ bọc miếng nhôm bên ngoài, nhưng Chín Phận ngược xuôi, rành rọt từng khoa, từng phòng, từng gương mặt bác sĩ, y tá ở Phòng khám khu vực Phú Thứ cho đến Bệnh viện đa khoa huyện Tuy Hòa, Bệnh viện đa khoa Bắc Phú Khánh.

Có lần ông Chín Phận chở người ốm xuống bệnh viện lúc nửa đêm, trên đường trở về nhà đã bị kẻ cướp giả dạng hành khách chặn lại, ông nhanh trí tắt đèn xe máy, giảm ga cho xe chậm lại giả vờ nghe theo kẻ cướp, nhưng khi đến gần bất ngờ ông tăng tốc thoát thân. Hiểm nguy rình rập dọc đường chạy xe ôm, vậy mà sau đó có người ốm trong làng kêu ông chở đi cấp cứu, Chín Phận không hề lo ngại. Cứu người là chuyện cấp thiết và đạo nghĩa ở đời. Chín Phận thường nói vậy

(9)

với bà con trong xóm, nên đôi khi người đi xe thồ chỉ trả đủ tiền xăng, ông chẳng phàn nàn chút nào. Cũng là bà con trong thôn xóm thôi mà. Chín Phận thường tự nhủ lòng mình vậy đó.

Mấy hôm trước nghe anh em du kích trực gác kho thóc ở sân kho số 1, số 2 báo tin, đã có lần họ phát hiện người lạ lẻn vào sân kho lúc nửa đêm. Khi anh du kích trẻ ôm súng bước ra kiểm tra, bóng người lạ chuồn nhanh, mất hút phía sau hàng rào có bụi cây rậm ở góc sân. Loáng một cái biến mất. Biến nhanh đến mức nhiều anh em cứ bàn tán, nghi ngờ, đồn đoán rằng hồn ma từ dưới cõi âm hiện lên trêu chọc người trần. Giờ lại nghe ông Chín Phận bị cướp hụt, Năm Dương nhận định:

- Không loại trừ đám tàn quân của chế độ cũ lẩn trốn chui nhủi trong rừng, nửa đêm mò ra đường lộ giở trò cướp bóc để kiếm miếng ăn, rồi lén lút về đây mưu toan đột nhập kho thóc.

Ba Hưng, Phó chủ tịch kiêm Trưởng công an xã trầm ngâm hồi lâu, mới rỉ tai Năm Dương “bật mí”:

- Tuần trước họp giao ban công tác an ninh trật tự ở Công an huyện Tuy Hòa, anh Hai Phúc, Trưởng Công an huyện đã cảnh báo cho Công an xã Hòa Phong về những dấu hiệu bất thường trong quan hệ sinh hoạt của một số đối tượng binh lính, sĩ quan chế độ cũ. Tập trung chủ yếu vẫn là những phần tử đã từng tham gia các tổ chức xây dựng nông thôn, bình định nông thôn và các đảng phái Dân Chủ, Đại Việt…

- Không lẽ những phần tử xấu nhen nhóm tổ chức phản động sao anh?

- Cái đó thì chưa có căn cứ để kết luận, nhưng qua công tác nắm tình hình ở địa bàn cơ sở, trinh sát an ninh của huyện nghi vấn một số đối tượng đang tìm kiếm cơ hội ngóc đầu dậy, kích động chống phá chủ trương đường lối hợp tác hóa nông nghiệp… Anh Năm là đảng viên, cán bộ thoát ly từ trong kháng chiến, rồi trưởng thành sau những năm tập kết ra miền Bắc nên tôi mới nói, chớ chuyện này vẫn còn trong tầm bí mật, chưa thể tiết lộ cho những cán bộ trẻ và anh em du kích. Rò rỉ thông tin ra ngoài, bị kỷ luật nghiêm khắc chứ chẳng phải chuyện đùa đâu nghe anh.

Năm Dương gật đầu, siết chặt tay Ba Hưng trước khi lên xe đạp, đi xuống các đội sản xuất thúc nhắc bà con chủ động giúp nhau bện tranh lợp lại mái nhà, trộn rơm đạp bùn để trét vách sau trận mưa bão khủng khiếp. Cả chục năm trời mới xuất hiện trận bão ập tới một địa bàn nằm cách bờ biển gần ba chục cây số.

Trên bản đồ hành chính, Hòa Phong là vùng quê phía tây vựa lúa Tuy Hòa. Từ trên cao nhìn xuống, huyết mạch giao thông đường 5 chạy dọc con mương chính Nam hệ thống thủy nông Đồng Cam trông như một nét vẽ hiền lành uốn lượn qua những làng mạc, cánh đồng. Một bên nét vẽ uốn lượn là phần đất mở ra tới hữu ngạn sông Ba với những nương dâu, trảng mướp, soi dưa nối tiếp cồn bãi phù sa và nhiều đám cỏ ống mượt mà vốn là nguồn thực phẩm dồi dào, tươi rói dành cho đàn bò của nhiều gia đình sinh sống ven sông. Một bên là không gian rộng lớn vươn tới làng quê Hòa Mỹ, Hòa Đồng. Ngược đường 5 lên phía tây, vượt ra khỏi địa hạt Hòa Phong là vùng đất đỏ chập chùng đồi núi với Hòn Mái Nhà, Hòn Nhọn thuộc vùng đất Sơn Thành, nhưng người dân đồng bằng Tuy Hòa quen gọi là Đất Đỏ, bởi cái màu đất bazan tỏa đầy bụi đỏ trong mùa khô, nhão trơn lem luốc trong mùa mưa. Phía ấy có công trình thủy nông đập Đồng Cam xây dựng từ năm

(10)

1924, cung cấp nguồn nước tưới cho hơn hai chục ngàn héc ta đất sản xuất nông nghiệp ở đôi bờ châu thổ sông Ba bốn mùa thẳng cánh cò bay, mướt xanh lúa, bắp, mía, dưa…

Những ngày cuối của cuộc chiến tranh, con đường số 5 qua địa bàn Hòa Phong là nơi diễn ra chiến sự rất ác liệt. Bị đánh tan tác từ Cheo Reo, Thuần Mẫn ở Gia Lai, hàng vạn sĩ quan, binh lính của quân đội Việt Nam Cộng hòa từ Tây Nguyên tháo chạy xuống đường số 7 về hướng Củng Sơn, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên, nhưng đã bị bộ đội địa phương chặn đánh. Dưới sự chỉ huy của chuẩn tướng Trần Văn Cẩm, Phó tư lệnh Quân đoàn 2, hàng ngàn sĩ quan, binh lính nối đuôi nhau hối hả chuyển hướng bắt cầu phao vượt sông Ba tháo chạy sang đường số 5. Một cánh quân giải phóng thiện chiến nhất của Sư đoàn 320 - Quân đội nhân dân, triển khai phương án truy kích địch ráo riết từ phía tả ngạn dòng sông. Ở bên này, bộ đội, dân quân địa phương dàn trận đón đầu địch ở nhiều vị trí trọng yếu trên những cung đoạn phía tây đường 5. Tiếng súng nổ ầm ì từ ga Gò Mầm, cầu Tổng lên tới Phước Thành Đông, Tân Mỹ, Lương Phước, Đồng Bò, Hòn Kén. Địch huy động binh lính cùng xe tăng, máy bay phản lực từ tỉnh đường Phú Yên phản kích bằng hỏa lực mạnh nhưng bất thành. Cuộc rút lui chiến lược của địch từ Tây Nguyên xuống đồng bằng đã bị bẻ gãy, đập tan. Trên mặt đường 5 qua địa phận Hòa Phong, hàng trăm chiếc xe quân sự của địch chồng chất ngổn ngang, đổ nhào nghiêng ngửa dưới lòng mương, trên mặt ruộng. Những đám cháy tỏa khói đen ảm đạm, khét lẹt mùi thuốc súng lẫn trong mùi xăng nhớt, lốp xe, quân trang đang bén lửa. Áo giáp, nón sắt, mũ nồi, ba lô, súng đạn, quần áo lính, bi đông nhôm nhựa, thẻ bài căn cước và nhiều thứ quân dụng khác vứt bỏ khắp nơi.

Bom đạn của cuộc chiến tranh dai dẳng khiến cho xóm làng, ruộng vườn xơ xác tiêu điều. Tản cư ở nơi khác cả chục năm trời, hầu như gia đình nào cũng đã sinh sống làm ăn yên ổn. Bao đời nay ông bà tổ tiên từng nói “an cư, lạc nghiệp”. Biết vậy, nhưng hòa bình rồi ai cũng muốn về quê làm ăn, dựng nhà trên nền đất cũ để làm lại từ đầu. Những cái tên xóm Lẫm, xóm Đồng, xóm Bầu, xóm Chợ, xóm Soi, xóm Lồi, xóm Chùa, Đông Thuyền, Núi Đất… thấm đẫm trong máu thịt của người nông dân. Mỗi khi nghĩ tới nơi chôn nhau cắt rốn, người xa quê cứ nôn nao, bận lòng thương nhớ. Nhớ từng tiếng cu đất, cu lửa gáy vội từ phía đồng xa, tiếng con cá quẫy nước dưới ruộng bầu, tiếng nước chảy róc rách từ con mương trung đổ ra mương tiểu, tiếng cuốc kêu khắc khoải trong những đêm đông se lạnh…

Địa hình Hòa Phong rộng lớn. Có ruộng đồng, sông suối, núi rừng được coi là tiềm năng thiên nhiên phong phú. Ông Chín Lân thường nói với nhiều người rằng, xây dựng lại quê hương từ hoang tàn đổ nát đâu phải một sớm một chiều. Bà con mình phải chung lưng đấu cật để vượt khó, vươn lên từng bước. Phía sau công việc đồng áng của hợp tác xã, những lúc nông nhàn, người dân ở các xóm thôn gói nắm cơm trong bẹ chuối, mo cau, tất bật lên núi Đồng Thò Đo từ sáng sớm. Họ quanh đi quẩn lại từ khoảnh rừng này đến triền núi kia cũng chỉ đốn củi, đốt than, bẫy thú, hái lượm trái rừng. Có những nhóm người rủ nhau mang xâu lờ tre đi bập cút trong đám mía, giăng bẫy chim sẻ ở sân kho thóc, thả lưới, ném chài bắt cá dưới sông, suối, ao, bầu.

Phía Tây chân núi Đồng Thò Đo là Trại cải tạo A30 nằm cạnh khúc sông Đồng Bò chảy ra sông Ba rộng lớn. Hàng ngàn sĩ quan, cảnh sát, đảng viên các đảng phái chính trị… hoạt động trong chế độ cũ đã và đang lao động, học tập cải tạo tư tưởng ở đó.

Đâu phải người nào im lặng cúi đầu, lầm lũi bước vào trại một cách ngoan hiền, rồi mềm môi, ngọt giọng bẩm báo chào thưa tử tế, tất bật cày cuốc, gieo trồng lúa, ngô, mía, sắn đều được coi là

(11)

phục thiện. Lắm kẻ mới nhìn bề ngoài có vẻ hiền lành dễ sai khiến, gọi dạ, bảo vâng, nghe mùi tai như rót mật, nhưng lòng dạ tâm tính trái ngược hẳn.

Có lần giữa buổi sáng cuối tháng tư, trong lúc người dân đang làm cỏ lúa ở xứ đồng Gò, gần chiếc cầu Máng được đúc bằng bê tông cốt thép để dẫn nước con mương chính Nam vượt qua mặt sông Đồng Bò, cách trại cải tạo hơn cây số, bỗng dưng thảng thốt giật mình khi nghe những loạt đạn súng trường dội vào vách núi. Nghe ngóng dò hỏi suốt mấy ngày sau mọi người mới biết đã xảy ra vụ việc phạm nhân tấn công cán bộ quản giáo để thực hiện mưu toan cướp súng, lẩn trốn khỏi nơi giam giữ cải tạo. Lúc đó chuẩn úy Lẫn, cán bộ quản giáo vừa cất tiếng nhắc nhở nhóm phạm nhân tập trung làm cỏ nương dâu bên chân núi, không được lê la tán gẫu. Bất ngờ bọn chúng cầm cuốc ập tới đánh bổ vào đầu anh Lẫn. Người cán bộ trẻ tuổi ngã kềnh xuống bờ đất trong tình trạng choáng váng nhưng vẫn gượng sức giữ chặt khẩu súng trường trên tay, rồi chồm dậy hô hoán. Nhóm phạm nhân tháo chạy về phía núi, năm cán bộ trại đuổi theo kêu gọi, nhưng bọn chúng không dừng lại. Tình thế buộc họ phải nổ súng tiêu diệt ba đối tượng, sau đó triển khai phương án truy lùng ráo riết và đã vây bắt hai kẻ cầm đầu là Nguyễn Minh Trung và Hồ Ngọc An. Trung là sĩ quan chế độ cũ. Gã không muốn hoàn lương hướng thiện, nên sau ngày học tập cải tạo trở về nhà, người đàn ông này vẫn bộc lộ cá tính hiếu chiến, hung hăng nhen nhóm, lôi kéo kẻ xấu tham gia tổ chức phản động mệnh danh “Mặt trận cứu nguy dân tộc”.

Bị đưa vào Trại cải tạo sau khi tòa án tuyên phạt hai mươi năm tù, Trung vẫn nuôi dưỡng dã tâm trốn trại ra bên ngoài, tiếp tục hoạt động chống phá chính quyền cách mạng. Sau phi vụ tấn công cán bộ quản giáo để thực hiện mưu toan lẩn trốn khỏi nơi đang bị giam giữ, cải tạo bất thành, bản án của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Khánh đã đặt một dấu chấm, kết thúc số phận cuộc đời gã đàn ông Nguyễn Minh Trung bằng hình phạt tử hình theo quy định pháp luật, người còn lại là Hồ Ngọc An phải lãnh án mười hai năm tù…

Thế đấy. Làng quê Hòa Phong tưởng chừng nhỏ bé nhưng lại mênh mông lắm. Ở đó có nhiều chuyện vui và cũng không ít chuyện buồn. Bên luống cày ngoài thửa ruộng, sau lũy tre ở cuối bìa thôn và từ những con đường làng, ngõ xóm vẫn còn tiềm ẩn nhiều câu chuyện như vừa lạ, vừa quen, khiến cho người nhà quê ở nơi này nhớ mãi, nhớ mãi không thôi…

2

Thị trấn Phú Lâm nằm ở phía bờ Nam hạ lưu con sông Đà Rằng có chiếc cầu cùng tên dài hơn ngàn thước. Đấy là trung tâm huyện lỵ Tuy Hòa. Nhịp sống thường ngày ở phố huyện không tĩnh lặng, nhưng cũng không ồn ào sôi động. Huyết mạch giao thông đường bộ xuyên Việt cắt ngang phía Tây thị trấn với nhiều công sở xây dựng bên đường.

Trụ sở Công an huyện Tuy Hòa tọa lạc trên thửa đất thoáng rộng phía Đông quốc lộ. Khu hành chính là ba dãy nhà mái ngói, vách xây rất đơn sơ. Phía trước có vài cây xanh tạo bóng mát và sân bóng chuyền dành cho cán bộ, chiến sĩ rèn luyện thể thao cuối mỗi buổi chiều. Phía sau là

(12)

nhà ăn tập thể, cạnh đó có vài luống rau muống, rau cải vươn xanh mướt mắt cùng với giàn mướp đang độ ra hoa như để rủ rê ong bướm. Cách đó không xa là khu nhà tạm giam, tạm giữ can phạm được xây dựng bằng vách gạch, mái ngói.

Hai Phúc, Trưởng Công an huyện Tuy Hòa có vóc dáng hao gầy, gương mặt hiền lành, trầm tĩnh, phong cách đậm tố chất an ninh. Trong công tác chuyên môn nghiệp vụ, Hai Phúc là một cán bộ lãnh đạo tinh tế, cẩn trọng. Trong sinh hoạt đời thường ông rất giản dị, hòa đồng với mọi người. Sinh trưởng trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng kiên cường ở xã Hòa Bình, Hai Phúc là con trai cả của cụ Năm, Ủy viên Ban An ninh, Trưởng Ban điệp báo và an ninh đô thị Phú Yên từ thời kháng chiến. Đó là dấu son lấp lánh đáng tự hào, nhưng Hai Phúc luôn mẫu mực, khiêm tốn, giản dị. Ông giản dị đến mức có anh lính trẻ tên Minh mới được điều về huyện nhận công tác ở đội an ninh, nhìn thấy phong cách sống hết sức bình dị của ông, cậu ta cứ nhầm tưởng thủ trưởng đơn vị là con trai của một lão nông nào đó, cả đời chỉ biết tay cày, tay cuốc bươn chải ngoài ruộng, trên nương.

Buổi tối giáp rằm, vầng trăng tỏa sáng vằng vặc. Anh lính trẻ tên Minh trải chiếc chiếu lát dưới mái hiên khu nhà tập thể, mang ấm nhôm ra bếp củi đun nước pha trà nóng rót ra tách sứ, vốn là món quà của các đồng nghiệp ở Công an tỉnh Hải Hưng gửi tặng. Đang lúc uống trà ngắm trăng, Minh cẩn trọng dò hỏi anh Ba Thành:

- Trông chú Hai Phúc còn trẻ mà nghe nói chú ấy đã có nhiều năm thoát ly lên chiến khu tham gia kháng chiến thiệt hả anh Ba?

- Chú mầy tính làm công tác tổ chức cán bộ hay sao mà tìm hiểu lai lịch của trưởng huyện? - Đâu có. Không biết thì hỏi, chớ anh Ba nói vậy thủ trưởng nghe được là khổ thân em. - Đùa với chú mầy cho vui chớ trưởng công an huyện mình “lý lịch đỏ” hiếm cán bộ nào ở huyện này có được đâu nghe mậy.

Minh im lặng không hỏi gì thêm, nhưng sau nhiều cuộc tiếp xúc với những cán bộ công an khác, anh lính trẻ mới biết thời kháng chiến chống Mỹ, ông Hai Phúc thoát ly lên miền núi Sơn Hòa gia nhập Đại đội an ninh vũ trang từ khi mới trưởng thành. Có lần, Ban Tuyên giáo Huyện ủy Tuy Hòa giới thiệu một nhà báo từ Hà Nội vào tiếp cận tìm hiểu, thu thập tài liệu viết bài về truyền thống cách mạng, nữ phóng viên đó phải kiên nhẫn thuyết phục hồi lâu Bảy Liên mới chịu kể lại mối tình thời chiến với ông Hai Phúc và những kỷ niệm sâu sắc về người thân trong chiến tranh.

*

… Mười tám tuổi, Bảy Liên rời Hòa Thịnh, quê hương Đồng khởi - cái nôi cách mạng của tỉnh trong hai cuộc kháng chiến, thoát ly tham gia cách mạng trong cái đêm cuối tháng 5-1965, khi phía địch đang trút bom đạn xuống núi Lá ở Hòa Mỹ. Bảy Liên bám theo người anh con ông bác ruột, băng đồng, vượt sông suối, đồi dốc, rừng sâu lên tới trạm giao liên Phong Cao ở miền núi Sơn Hòa khi trời vừa sáng tỏ. Nữ cán bộ giao liên dẫn đường Bảy Liên đi thêm một chặng nữa mới vào vùng giải phóng An Lĩnh. Bước vô căn nhà tranh, vách đất ẩn mình dưới tán cây rừng,

(13)

người cán bộ cách mạng đầu tiên Bảy Liên được gặp chính là cha ruột của mình - ông Hai Tình, cán bộ Ban An ninh Phú Yên. Đêm đó hai cha con mừng vui đến mức không sao ngủ được. Ông Tình hỏi han nhiều điều về người vợ và bà con ở quê nhà, rồi nói cho Bảy Liên biết các cô, chú ở chiến khu hầu hết là những người sinh trưởng ở đồng bằng Tuy Hòa.

Ba hôm sau, trong số những cán bộ Ban An ninh Phú Yên về dự cuộc họp bàn phương án cử trinh sát luồn sâu vào vùng địch để tiêu diệt một gã điệp báo của địch, Bảy Liên nhìn thấy một người đàn ông có tầm vóc hơi thấp, gương mặt kiên nghị, nước da trắng, chất giọng dân dã, nói năng bằng những câu từ, chất giọng đặc sệt xứ Nẫu. Nét lạ lẫm, dễ nhớ ở người đàn ông này là chiếc áo bà ba màu xám sậm, thân áo hơi dài.

Quá trưa, cuộc họp vừa tan, ông Tình vẫy tay gọi Bảy Liên lại để báo cáo với người đàn ông nọ:

- Thưa anh Năm, đây là con gái của tôi vừa mới thoát ly lên trên này để theo cách mạng. Dứt câu, ông Tình xoay sang giới thiệu với cô con gái:

- Đây là chú Năm, quê ở Hòa Bình. Chú Năm đang giữ chức trách Ủy viên Ban An ninh, Trưởng Ban điệp báo và an ninh đô thị Phú Yên.

Ông Năm bước tới xoa đầu Bảy Liên, hỏi:

- Con lên đây có nhớ mẹ không?

- Dạ, nhớ chớ sao không. Nhưng ở đây đã có ba và các cô, các chú rồi.

Đó là lần đầu tiên Bảy Liên được gặp cha ruột của Hai Phúc, sau này là ba chồng của bà. Hơn một tháng sau đó, cuộc họp của Ban An ninh Phú Yên vừa kết thúc, Bảy Liên thẹn thùng chạy ra gốc cây bằng lăng rừng, ngồi im lặng khi tình cờ nghe ông Năm nói với cha mình, nửa đùa nửa thật:

- Tui với anh đi làm cách mạng từ thời trai trẻ. Con trai cả của tui đang ở bên Đại đội an ninh vũ trang, con gái anh bây giờ cũng đã lên đây, tui với anh kết tình sui gia là được rồi.

- Tụi nó ưng, thì mình xây dựng chớ có khó gì đâu.

Bảy Liên đâu ngờ rằng sau này ước muốn của hai người cha đã trở thành sự thật.

Trong thời gian Bảy Liên công tác ở Trại cải tạo A20, mỗi tháng vài ba lần, ông Năm vào trại hỏi cung can phạm là những đối tượng chính trị, ác ôn, chiêu hồi, sĩ quan, binh lính, điệp báo… của địch đã bị bắt giữ. Lần nào gặp Bảy Liên ông Năm cũng cười thân thiện, coi nữ chiến sĩ trẻ này như đứa con ruột của mình.

(14)

Đầu mùa lúa rẫy cuối năm 1965, một can phạm lén lút trốn thoát về xuôi lúc nửa đêm, tìm đến Ty Cảnh sát quốc gia Phú Yên xin chiêu hồi, rồi chỉ điểm cho địch dội bom đánh phá Trại cải tạo A20, trong số những cán bộ chiến sĩ ở Đại đội an ninh vũ trang tăng cường bảo vệ trại, có một thanh niên hiền lành, nói năng từ tốn. Khi Bảy Liên khơi chuyện làm quen mới biết người thanh niên đó là Hai Phúc, con trai cả ông Năm.

Lần cuối cùng Bảy Liên gặp ông Năm vào độ giáp tết Mậu Thân. Sau cuộc họp của Ban An ninh Phú Yên ở Sơn Long, ông Năm bước ra sân, vẫy tay gọi ông Hai Tình lại, rồi nói:

- Cuộc chiến đấu còn diễn ra quyết liệt lắm. Mai này tui cùng một số đồng chí sẽ luồn sâu vào vùng địch để mở cuộc tập kích... Tui tâm nguyện quyết tử với địch, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc.

Phía sau những lời chia sẻ đó, dường như ông Năm đã linh cảm sinh mệnh của mình trong cuộc chiến đấu ác liệt sắp diễn ra phía trước.

Khi tấn công vào Ty Cảnh sát quốc gia Phú Yên trong chiến dịch Mậu Thân, ông Năm cùng các chiến sĩ an ninh đô thị diệt gọn bốn đối tượng ác ôn, giải thoát nhiều cán bộ, đồng bào của ta bị địch bắt giữ. Cay cú vì bị tấn công bất ngờ, mờ sáng ngày đầu tháng Ba, địch tung ra hàng trăm sĩ quan, binh lính Lữ đoàn dù 173 của Mỹ cùng Trung đoàn Mãnh Hổ của Nam Triều Tiên và Trung đoàn 47, với sự hỗ trợ của máy bay, xe tăng và hỏa lực mạnh bao vây xóm Chùa nằm bên mé đồng Ninh Tịnh. Ông Năm động viên đồng đội quyết tử, đồng thời chỉ đạo triển khai chiến thuật thu hút địch sang một hướng khác để đánh, tạo điều kiện cho chiến sĩ an ninh vũ trang đưa hai đồng chí cán bộ lãnh đạo thoát khỏi trận chiến về đến căn cứ an toàn. Gần ba chục cán bộ, chiến sĩ bám trụ chiến đấu kiên cường trong nhiều giờ, ông Năm cùng một số người hy sinh anh dũng khi địch điên cuồng dội đạn pháo ầm ào tứ phía. Hai Phúc là một trong những người còn sống sót sau trận đánh ở xóm Chùa. Di chứng vết thương trong trận đánh đó hành hạ riết, nên sau khi về lại chiến khu một thời gian, Hai Phúc được lệnh vượt đường Trường Sơn ra miền Bắc điều trị, rồi ở lại học văn hóa tại Trường lao động phổ thông Trung ương.

Duyên nghiệp đưa Hai Phúc vào ngành Công an từ đầu thập kỷ bảy mươi. Hồi đó, ông là một trong số ít học sinh của Trường lao động phổ thông Trung ương được Bộ Công an tuyển chọn đào tạo nghiệp vụ hơn hai năm ở Trường cán bộ an ninh miền Nam E1171, trước khi khoác ba lô về lại chiến trường miền Nam. Lúc đó, niềm vinh dự tự hào nhất đối với Hai Phúc là được phân nhiệm về Ban An ninh tỉnh Phú Yên, nơi người cha đã gắn bó hơn hai chục năm. Bảy Liên cũng đã chuyển sang Đội biệt động nội thành thuộc Ban điệp báo an ninh đô thị.

Cuối năm, tình cờ Hai Phúc gặp lại Bảy Liên trong chuyến công tác dài ngày ở Xuân Sơn, huyện Đồng Xuân. Trong lúc hai người đang cùng đồng đội vận động nhân dân mở rộng vùng giải phóng, bất ngờ từ phía thị trấn La Hai, bọn địch dội bom, phóng rốc két xối xả xuống nhiều thôn xóm, mở màn một cuộc càn quét ác liệt. Chẳng biết duyên nợ đưa đẩy thế nào, Bảy Liên và Hai Phúc cùng nhảy xuống một hầm trú ẩn. Đọc trong ánh mắt của nhau, họ nhận ra một tình cảm thầm kín chưa kịp bày tỏ. Vài ngày sau, Hai Phúc dúi vào tay Bảy Liên tờ giấy học trò đã gấp gọn. Đến tối hôm đó, qua ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu mù u, Bảy Liên mở thư ra đọc trong tâm trạng hồi hộp. Tình cảm yêu thương rất chân thành của Hai Phúc bày tỏ trong những dòng thư mộc mạc

(15)

khiến cho Bảy Liên rạo rực niềm vui, nhưng cô cán bộ trại cải tạo ở chiến khu vẫn giả vờ làm khó, chờ đến khi nhận được lá thư thứ ba mới đặt bút hồi âm.

Chiến tranh ngập tràn đạn bom khói lửa khiến cho Hai Phúc lẫn Bảy Liên cứ chần chừ mãi, đến khi miền Nam giải phóng họ mới tính chuyện duyên phận trăm năm. Sau những giọt nước mắt trào dâng khi gặp lại bà Tùng, người mẹ kính yêu vừa trở về quê từ Nhà tù Phú Quốc sau những năm tháng bị địch bắt giam, tra tấn dã man, Hai Phúc xin phép mẹ mình tổ chức kết hôn với Bảy Liên.

Đám cưới ở quê nhà hồi đó đơn sơ nhưng đầm ấm lắm. Bà con thân tộc cùng hàng xóm láng giềng xúm xít dựng rạp trước sân, sắp xếp bàn ghế, ly, chén vừa mới mượn thêm từ mấy nhà kế bên. Cánh đàn ông khéo tay ngồi chẻ tỉa tàu dừa, lo khâu trang trí trước cổng rạp, rồi chuẩn bị một bình sứ có kiểu dáng hệt như củ tỏi để đựng rượu gạo mới chưng cất còn đậm mùi thơm nồng và chút lễ vật cho nhà trai đi làm lễ cưới bên gái cách đó hơn chục cây số. Bên góc sân, một ông trung niên tỉ mẩn chắp nối sợi dây đàn ghi-ta mới bị đứt, để lo góp vui văn nghệ trong đêm tiệc trà, bánh ngọt. Mấy chị phụ nữ cặm cụi gói vài xâu nem, ít cây chả, làm thêm bánh da, bánh men, rim mứt… rồi chui tọt vào bếp lo nấu nướng để chuẩn bị bữa tiệc tiếp đãi họ nhà gái và đón khách gần xa được mời đến chia vui. Ấy là dịp tốt để vợ chồng Hai Phúc gặp lại nhiều đồng đội đã một thời gắn bó sâu sắc ở chiến khu.

Sau ngày cưới, Hai Phúc được cơ quan bố trí một gian phòng nhỏ trong khu hành chính tiếp quản của địch, tọa lạc bên đường Duy Tân ở nội thị Tuy Hòa. Mỗi ngày, Hai Phúc đi bộ tới Ty An ninh Phú Yên ở cạnh đó để làm việc, còn Bảy Liên cọc cạch xe đạp vượt qua chiếc cầu Đà Rằng dài hơn ngàn thước để sang thị trấn Phú Lâm theo lịch biểu quen thuộc, sáng đi chiều về. Công việc thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Tuy Hòa cuốn hút bà Bảy Liên dành nhiều thời gian nghiên cứu hồ sơ để giải quyết các vụ án dân sự lẫn hình sự theo phân công của Chánh án, nên lắm lúc bà cũng bận rộn cả tuần, đến ngày chủ nhật lại phải tất bật với công việc gia đình, chỉ có người phụ nữ mới đảm trách chu toàn.

*

Cuối năm đầu sau khi miền Nam giải phóng, hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa được hợp nhất thành tỉnh Phú Khánh.

Trụ sở Ty Công an Phú Khánh tọa lạc bên đường Trần Phú, phường Lộc Thọ ở trung tâm thành phố Nha Trang. Từ cổng trụ sở nhìn ra phía trước là biển xanh với những con sóng bạc đầu dịu dàng vỗ nhẹ vào bờ cát trắng mịn màng mở rộng hình vòng cung ôm lấy vịnh biển. Đứng bên cạnh những cây dương liễu là hàng dừa xanh xõa tóc nghiêng mình làm duyên trước gió. Mỗi sớm mai thức dậy, nhiều cán bộ, chiến sĩ công an thường tranh thủ nửa giờ bước ra trước biển, ngắm bình minh và tập thể dục. Đó là những giây phút thảnh thơi nhất trong ngày, vì công tác bảo vệ an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội lúc bấy giờ có quá nhiều nhiệm vụ cấp thiết. Nhiều đối tượng sĩ quan, binh lính, đảng phái chính trị phản động còn lẩn trốn, che giấu nhân thân, đang mưu toan thu gom, cất giấu vũ khí, lương thực thực phẩm để nhen nhóm hình thành các tổ chức phản động, thực hiện âm mưu ám sát cán bộ, đảng viên ở cơ sở, phá hủy cầu đường giao thông, kênh mương thủy nông, cống dẫn nước tưới tiêu, rải truyền đơn, treo cờ “ba que” của chế độ cũ, tuyên

(16)

truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, kích động những kẻ bất mãn, lạc hậu tham gia chống phá chính quyền cách mạng…

Trong những cuộc họp cán bộ chủ chốt, ông Hai Đại - Trưởng Ty Công an Phú Khánh nhiều lần căn dặn lãnh đạo công an các đơn vị, địa phương rằng, nhiệm vụ của lực lượng công an trong thời điểm này không chỉ phối hợp quân đội tập trung triển khai phương án truy quét tàn quân của chế độ cũ còn lẩn trốn trong những cánh rừng, đồi núi, sông suối, buôn làng đồng bào dân tộc thiểu số, mà phải rà soát từng trang giấy từ tàng thư lưu trữ trong hồ sơ thu được của địch để dò tìm các đối tượng sĩ quan, hạ sĩ quan, cảnh sát, gián điệp, tình báo, mật báo viên, cộng tác viên… còn cố tình che giấu nhân thân để chui vào các cơ quan, xí nghiệp, lâm trường, nông trường nhằm tạo vỏ bọc để ẩn mình. Kế đến là phải triển khai kế hoạch đấu tranh khám phá, đập tan âm mưu đen tối của những kẻ cố tình ngóc đầu dậy, mưu toan hình thành các tổ chức phản động hoạt động vũ trang, gây bạo loạn; phòng chống nạn vượt biển trốn ra nước ngoài; tiếp tục theo dõi, cảm hóa các đối tượng học tập cải tạo được tha về, bài trừ mê tín dị đoan, giáo dục giới lưu manh côn đồ, cao bồi du đãng… từng ăn chơi trụy lạc trong xã hội cũ; tổ chức thực hiện công tác đăng ký quản lý nhân khẩu, hộ khẩu, đối tượng tạm trú, tạm vắng; tập trung tiến hành công tác cải tạo tư sản, xóa bỏ giai cấp tư sản mại bản, đấu tranh ngăn chặn những hành động đầu cơ, tích trữ, phá rối thị trường, gây khó khăn trong đời sống người dân lao động…

Trong bối cảnh đó, các lực lượng Công an Phú Khánh đã lần lượt đấu tranh khám phá, xóa sổ các tổ chức phản động mệnh danh “Lực lượng yêu nước Việt Nam”, “Mặt trận phục quốc”, “Việt Nam quốc dân Đảng II”, “Đảng liên minh Việt Nam”, “Hội đồng nhân dân kháng chiến” ở huyện Tuy Hòa, “Mặt trận quốc gia phục quốc”, “Lực lượng giải phóng đất nước” ở huyện Đồng Xuân, “Mặt trận thanh niên phục quốc Đảng”, “Quân lực mặt trận quốc gia giải phóng”, “Mặt trận liên quân hỗn hợp S21” ở thị xã Tuy Hòa, “Mặt trận cứu nguy dân tộc” ở huyện Tuy An, “Phi Long quyết chiến” ở huyện Tây Sơn… Nhưng rồi những phần tử hiếu chiến, từng được chế độ cũ nhồi nhét tư tưởng chống cộng quyết liệt vẫn không từ bỏ âm mưu đen tối, trong đó hoạt động phá hoại kinh tế là một trong những mục tiêu đầu tiên luôn được các tổ chức phản động ngắm tới.

Ở Phú Khánh lúc bấy giờ vựa lúa Tuy Hòa là đầu mối sản xuất và cung cấp nguồn lương thực hàng trăm ngàn tấn thóc mỗi vụ mùa. Có người ví von đồng bằng Tuy Hòa là kho thóc dự trữ của miền Trung. Phía Tây vùng đất này là công trình thủy nông Đồng Cam cung cấp nguồn nước tưới cho hơn hai chục ngàn hec-ta đất sản xuất nông nghiệp ở đôi bờ châu thổ sông Ba. Cánh đồng quê thật mênh mông và thơ mộng. Nhạc sĩ Cao Hữu Nhạc vốn là người sinh trưởng ở nơi này không lạ gì với bức tranh đó, nhưng sau nhiều lần đứng trước màu xanh mượt mà cây lúa đương thì con gái trải rộng, vươn xa tít tắp trong tầm mắt, ông đã phải thốt lên giai điệu quê hương trong ca khúc “Tuy Hòa chín nhớ mười thương” bằng những ca từ đằm thắm, dạt dào: “Ngát đồng xanh cánh cò bay mỏi. Anh đưa em về thăm lại quê hương. Ơi Tuy Hòa chín nhớ mười thương. Câu dân ca lượn gió vờn lúa non…” .

Bốn năm trôi qua. Chừng ấy thời gian chưa phải là dài, nhưng cuộc sống người dân ở vựa lúa Tuy Hòa đang dần ổn định, dẫu rằng phía trước vẫn còn lắm khó khăn thử thách. Mới năm nào làng quê, ruộng vườn vẫn còn hoang sơ, xơ xác, giờ đây đã mượt mà màu xanh lúa, mía, bắp, dưa… Dấu vết bom cày đạn xới trên nền đất cũ đã được san lấp để những ngôi nhà mới mọc lên, thôn xóm thêm đông vui, rộn rã tiếng cười giòn tan của cánh thanh niên trên đường làng, tiếng đọc bài hồn nhiên của con trẻ. Thế nhưng những phần tử phản động vẫn lén lút tìm mọi cách phá hoại

(17)

chủ trương chính sách nông nghiệp bằng nhiều thủ đoạn kích động nông dân từ bỏ sản xuất, từ chối tham gia xây dựng vùng kinh tế mới, phá hủy cầu cống, kênh mương thủy nông, phản bác, chống đối hợp tác hóa nông nghiệp. Giữa bộn bề nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, trong đó có hoạt động bảo vệ an ninh kinh tế, Hai Phúc được điều động về lại quê nhà, lần lượt giữ chức vụ từ Phó đến Trưởng Công an huyện Tuy Hòa.

Hôm đó, anh lính trực ban hậu cần xuống đội xe ô tô báo cáo cho Hai Phúc biết thủ trưởng cơ quan vừa điện thoại tìm gặp. Nghe xong, Hai Phúc vội vã đến phòng làm việc của ông Hai Đại, gõ cửa.

Rót tách trà mời cán bộ dưới quyền, vị Trưởng Ty có gương mặt phúc hậu và đôi mắt kiên nghị, ngồi trầm ngâm trong giây lát, rồi nói:

- Như anh đã biết, Tuy Hòa là vùng đất giàu truyền thống cách mạng kiên cường trong hai cuộc kháng chiến, nhưng cũng là nơi sinh ra đảng phái chính trị Đại Việt ở xã Hòa Phong. Trước khi đất nước thống nhất, tổ chức chính trị này đã phát triển và mở rộng mạng lưới đảng viên đến nhiều địa bàn khác. Ở đó còn có không ít phần tử sĩ quan, cảnh sát đặc biệt, tình báo, mật vụ thời chế độ cũ đã và đang học tập cải tạo. Hầu hết họ đã chuyển đổi nhận thức tốt, nhưng vẫn còn một số đối tượng âm thầm nuôi dưỡng ảo vọng phục quốc, mưu toan chống phá, lật đổ chính quyền cách mạng.

Dừng lại trong chốc lát, với tay bưng tách trà nóng uống một ngụm, ông Hai Đại nói tiếp:

- Do yêu cầu công tác cán bộ, tập thể Đảng ủy và lãnh đạo Ty Công an Phú Khánh thống nhất điều động anh về huyện Tuy Hòa. Tôi tin với những trải nghiệm sau nhiều năm công tác ở Đại đội an ninh vũ trang của Ban An ninh Phú Yên trong chiến tranh và bốn năm công tác ở Ty An ninh Phú Yên, Ty Công an Phú Khánh, anh sẽ lãnh đạo đội ngũ cán bộ, chiến sĩ công an huyện thực hiện tốt nhiệm vụ bảo đảm ổn định an ninh chính trị - trật tự, an toàn xã hội ở đồng bằng Tuy Hòa.

- Là đảng viên, cán bộ công an, tôi luôn luôn sẵn sàng chấp hành nghiêm túc mọi sự phân công của tổ chức và xin hứa sẽ thực hiện tốt nhiệm vụ được giao trong mọi điều kiện, tình huống…

Ông Hai Đại chủ động siết chặt bàn tay Hai Phúc, rồi nói:

- Tôi sẽ ký quyết định điều động phân công nhiệm vụ ngay trong tuần này, để đầu tuần sau một đồng chí Phó Trưởng ty và đại diện Phòng tổ chức cán bộ sẽ đi cùng anh ra Công an huyện Tuy Hòa công bố quyết định có sự tham dự của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện. Chúc anh sức khỏe, thành công.

*

Thời gian trôi đi chóng vánh. Mới đó đã hơn nửa năm kể từ khi Hai Phúc về nhận công tác ở vùng quê lúa Tuy Hòa.

Một buổi trưa mênh mang, lộng gió. Hai Phúc từ thành phố biển Nha Trang trở về đến cơ quan sau cuộc họp ở Ty Công an Phú Khánh. Ngồi nghỉ chưa kịp ấm mặt ghế ông đã giục ba trinh

(18)

sát an ninh Công an huyện Tuy Hòa cùng với mình lên xe ô tô xuống một số xã trọng điểm, nắm tình hình an ninh chính trị liên quan đến nhiệm vụ bảo vệ chủ trương chính sách hợp tác hóa nông nghiệp.

Chiếc xe U-oát ngược đường 5 giữa buổi sớm mai dịu mát, trong lành. Nhiều cung đoạn lồi lõm ổ gà nối tiếp sống trâu khiến cho tài xế phải liên tục thao tác kỹ thuật về số, đánh vô lăng lệch trái, ngoặt phải, nhưng lắm lúc chiếc xe vẫn chồm lên rung xóc, lắc lư.

Ngồi trên xe, Hai Phúc lặng nhìn bà con xã viên đang nhịp nhàng tay cuốc, bâm bang những luống đất cày trên mặt ruộng săm sắp nước, để chuẩn bị gieo sạ vụ mùa lúa mới. Mùi bùn ngai ngái thoảng đưa trong gió, đánh thức ký ức tuổi thơ Hai Phúc đầy ắp những hoài niệm về một miền quê bình dị và người mẹ một thời tảo tần bên thửa ruộng rộc, ruộng bầu. Tuổi mười lăm, mười bảy, Hai Phúc đã từng xắn quần bâm đất trên những luống cày, gánh lúa oằn vai, lội ruộng mỏi chân, nên ông thấu hiểu nỗi vất vả của người nông dân dãi nắng dầm mưa, đổ mồ hôi, xót con mắt mới làm ra những hạt thóc mẩy tròn, dẻo thơm gạo mùa lúa mới.

Từ bao đời nay, cánh đồng Tuy Hòa trải rộng đôi bờ châu thổ sông Ba, mở ra vựa lúa hàng chục ngàn hec-ta, lớn nhất miền Trung. Những năm đầu sau ngày đất nước thống nhất, sản xuất nông nghiệp được xác định là mũi nhọn kinh tế ở miền Nam, lực lượng công an được lệnh triển khai các biện pháp nghiệp vụ đấu tranh ngăn chặn những âm mưu chống đối hợp tác hóa nông nghiệp của một số đối tượng xấu và quần chúng lạc hậu về nhận thức.

Đến trụ sở xã Hòa Phong nằm trên triền đồi cuối dãy núi Hòn Sặc chồm mình vươn vai sát mé đường 5, ngó ra cánh đồng Mỹ Thạnh Tây rộng lớn. Ông Chín Lân, Chủ tịch xã đang chủ trì cuộc họp đẩy mạnh phong trào làm thủy lợi, tập trung nhân lực nạo vét, đào đắp, tu bổ kênh mương nội đồng đảm bảo tưới tiêu phục vụ sản xuất. Do yêu cầu công tác khẩn cấp nên Hai Phúc bước vào xin lỗi mọi người dành cho chục phút để tổ công tác của Công an huyện Tuy Hòa tranh thủ gặp riêng ông Chín Lân và Ba Hưng, Phó chủ tịch kiêm Trưởng Công an xã.

Không dài dòng văn tự, Hai Phúc đặt vấn đề:

- Tôi muốn nghe các đồng chí thông tin nhanh gọn về những vụ việc liên quan đến an ninh trật tự ở địa phương trong thời gian gần đây.

Chín Lân đứng dậy, nói ngay:

- Báo cáo đồng chí Trưởng Công an huyện, ngoại trừ vài vụ trộm cắp lặt vặt đã xảy ra ở thôn này, xóm kia, có một vấn đề nổi cộm khiến cho tập thể cán bộ của xã thật sự quan tâm lo ngại, đó là chuyện bảy hộ gia đình ở hai thôn Mỹ Thạnh Đông và Mỹ Thạnh Trung đã có những động thái tiêu cực, đòi tư hữu ruộng đất và công cụ sản xuất, họ kiên quyết không tham gia hợp tác xã. Trong số đó có ba trường hợp đóng cửa, từ chối tiếp xúc những cán bộ xã tìm đến vận động...

Để rút ngắn thời gian, Hai Phúc chỉ đạo:

- Hợp tác hóa nông nghiệp là một chủ trương chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước. Chính quyền và các tổ chức đoàn thể ở địa phương cần phải tập trung đẩy mạnh công tác tuyên

Referências

Documentos relacionados

Nas seções a seguir, são apresentadas as prescrições normativas na ABNT NBR 14762:2010 para o dimensionamento de perfis formados a frio. Tais prescrições foram implementadas no

Dispara balas de fuzil e devem ser disparados utilizando-se as duas mãos (Teste Difícil se usar apenas uma), mas se usar apoio adicional de ombro pode evitar

Entidade

[r]

Sousa et al (2007), analisaram num amplo registro institucional de um serviço brasileiro, o DESIRE (Drug Eluting Stents in the Real World), onde foram incluídos 2043 pacientes

O ÍnPar é um indicador que visa alinhar os objetivos das empresas parceiras da Endesa Brasil, fornecedoras de serviços estratégicos, à estratégia das empresas do Grupo, identificando

entender o que o Dropbox faz para manter sua conta segura e o que você pode fazer para manter a visibilidade e o controle sobre os dados da sua equipe.... Responsabilidades do

Participaram deste evento o deputado federal, Vanderlei Macris; a deputada Estadual Célia Leão, o secretário adjunto da secretaria de Logística e Transporte, Moacir Rosseti;